Thượng tướng thầy giáo-Kỳ 1: Thầy giáo lục quân tình nguyện vào chiến trường

Theo dõi Báo Gia Lai trên Google News
Không chỉ là thầy giáo đã kinh qua các cuộc chiến đấu ở chiến trường Tây nguyên, Đông Nam bộ, biên giới phía Bắc, PGS.TS Nguyễn Thế Trị còn nổi danh bởi dám nghĩ, dám làm...
 
Thượng tướng Nguyễn Thế Trị, nguyên Giám đốc Học viện Quốc phòng (giữa) quay lại chiến trường Sa Thầy, Kon Tum tìm hài cốt đồng đội, năm 2010. Ảnh: Mai Thanh Hải
Trong số các tướng lĩnh nghỉ hưu hiện nay, PGS.TS Nguyễn Thế Trị, nguyên Ủy viên Trung ương  Đảng, nguyên Giám đốc Học viện Quốc phòng, nổi danh không chỉ là thầy giáo đã kinh qua các cuộc chiến đấu ở chiến trường Tây nguyên, Đông Nam bộ, biên giới phía Bắc mà còn bởi dám nghĩ, dám làm, dám đối mặt với sự hẹp hòi, lạc hậu…
Một ngày đầu tháng 11.2019, tôi bay từ TP.HCM ra Hà Nội tìm đến nhà ông ở Q.Cầu Giấy, TP. Hà Nội,  rất may, ông vừa đi họp ban liên lạc tướng lĩnh Quảng Ninh về, ông thò đầu khỏi xe taxi vẫy tay: “Đợi tý, tớ chờ thối tiền” và cười: “Lương hưu thượng tướng 18 triệu đồng, thêm 1 triệu đồng  chế độ dành cho thương binh. Vừa đủ nuôi 2 vợ chồng, đứa cháu giúp việc và trả tiền taxi đi lại thăm anh em đồng đội, họp ban liên lạc”…
Nhịn đói để làm gương
“Tôi sinh năm 1939 tại làng Cổ Phục (xã Kim Lượng, H.Kim Thành, Hải Dương), năm 11 tuổi tôi đã mất mẹ và phải sang nhà ngoại ở vì bố đang hoạt động trên chiến khu”, ông mở đầu câu chuyện về cuộc đời mình và nghẹn giọng: “Cứ tối đến, nhìn phía đông thấy Hải Phòng, Hòn Gai đèn điện sáng bừng là lại ước được 1 lần ra đó”. 
 
Học viên Nguyễn Thế Trị, Trường Sĩ quan Lục quân, năm 1964. Ảnh tư liệu
Tháng 5.1958, chàng trai 19 tuổi Nguyễn Thế Trị vào bộ đội trong đợt nghĩa vụ quân sự đầu tiên của Quân đội Nhân dân (QĐND) Việt Nam. Tháng 10.1960, ông được chọn đi ôn văn hóa để thi vào Trường Sĩ quan Lục quân (nay là Trường Sĩ quan Lục quân 1 - Đại học Nguyễn Huệ). Tháng 4.1964, ông tốt nghiệp loại giỏi, được phong hàm trung úy và giữ lại làm giảng viên. Ngày 5.8.1964, Mỹ mở rộng chiến tranh phá hoại ra toàn miền Bắc. Tháng 5.1965, ông viết đơn xung phong đi chiến đấu và được cử làm trung đội trưởng bộ binh tại trung đoàn 209, sư đoàn 312.
Thời điểm này, Liên Xô (cũ) tập trung viện trợ cho QĐND Việt Nam xây dựng một số đơn vị cơ động và trung đoàn 209 được chọn bởi bộ đội chủ yếu là người Hà Nội có sức khỏe khá, văn hóa cao. Sau gần 1 năm huấn luyện, cuối năm 1967, cả đơn vị được trang bị mũ sắt, súng AK báng gập, chống tăng B41, súng phun lửa, mặt nạ phòng độc…
 
Năm 2010, cựu chiến binh trung đoàn 209 trở lại chiến trường xưa Sa Thầy, Kon Tum tìm hài cốt đồng đội đã hy sinh trong chiến đấu. Ảnh tư liệu
Ngày 4.2.1968, đúng ngày mùng 5 Tết Mậu Thân, trung đoàn 209 hành quân vào Tây nguyên. Nhiệm vụ của trung đoàn lúc đầu được giao đánh sân bay Cà Leng, cách huyện lỵ Sa Thầy (Kon Tum) 2 km. Tuy nhiên, trong 1 lần trinh sát, cán bộ trung đoàn đánh rơi 1 cây bút Trường Sơn và bao thuốc lá Điện Biên, địch phán đoán “bộ đội chính quy miền Bắc đã vào” và bung ra xung quanh 4 cao điểm mới, chặn đường ta. Trận đánh Mỹ đầu tiên của trung đoàn 209 ở cao điểm 995 ngày 26.3.1968 do tiểu đoàn 7 đảm nhiệm chính diễn ra hết sức ác liệt và gây thương vong lớn cho ta.
“Trải qua mùa hè chiến đấu ác liệt, tôi thấy sức chiến đấu của bộ đội phụ thuộc vào đời sống. Đói và thiếu thốn thì không thể mạnh và vững vàng được. Vì vậy, phải vừa gương mẫu giúp đỡ anh em chiến sĩ vừa phải tìm củ cây thay lương thực", thượng tướng Nguyễn Thế Trị nhớ lại, nhưng... lắc đầu: “Tác chiến ở cao nguyên khó nhất là việc tiếp tế. Trung đoàn 209 góp công lớn, nhưng cũng bị tổn thất. Cán bộ, chiến sĩ bị thương nhiều. Vào sâu, có lúc thiếu gạo, tư tưởng chiến sĩ cũng ít nhiều sa sút. Đó là hiện thực”.
…“Năm 1956, tôi học hết cấp 1, lúc này huyện chưa có cấp 2 nên chúng tôi mời thầy giáo ở thị trấn về dạy bổ túc văn hóa cấp 2. UBND xã ủng hộ ngay và tiện thể giao anh em tôi giúp xã làm thống kê, tính thuế nông nghiệp, đo đạc ruộng đất cho dân... Được làm việc có ích, lòng người phơi phới, nhiệt huyết dâng trào. Bây giờ tôi cứ ao ước làm sao thanh niên ta, con em tôi có được những khát khao dâng hiến, làm việc, như những ngày sau hòa bình ấy. Nghèo lắm, ai cũng nghèo mà niềm vui được làm việc lâng lâng đến thế. Thời ấy tôi tự hỏi và tự trả lời: Hạnh phúc là gì? Hạnh phúc chưa hẳn đã cần sự đầy đủ, mà nằm trong một tương quan nào đó, rất cụ thể. Nó thúc giục người ta khát khao bước tới, dấn thân tự nguyện, đam mê làm việc, giúp người”…

PGS.TS, Thượng tướng Nguyễn Thế Trị, nguyên Giám đốc Học viện Quốc phòng

Lập mưu chống giành đất
Sau 9 tháng chiến đấu ở Tây nguyên, cuối năm 1968, trung đoàn 209 được mang mật danh "Đoàn Hải Yến" và vào chiến trường miền Đông Nam bộ, bổ sung cho sư đoàn 7. Trận đánh đầu tiên là với trung đoàn thiết giáp 18 Việt Nam Cộng hòa trên tỉnh lộ 2, ông lúc này là chủ nhiệm chính trị trung đoàn 209, cùng trung đoàn trưởng xung phong ra mặt đường.
 
Cán bộ chiến sĩ trung đoàn 209 chốt chặn trên đường 13 (năm 1972). Ảnh tư liệu
Tháng 5. 1972, trung đoàn 209 chốt chặn Quốc lộ 13 ở khu vực Cống Ông Tề, Tàu Ô, xóm Ruộng (từ nam Bình Long đến bắc Chơn Thành, Bình Phước) trong suốt 5 tháng trời.
Gần 50 năm, ông Trị vẫn nhớ, vào cuối tháng 7.1972, khi Hội nghị Paris về Việt Nam đang gay go, thắng lợi ở chiến trường trong nước có tác dụng thúc đẩy Hội nghị theo hướng có lợi cho ta. Ở Quảng Trị, quân ta chốt được 82 ngày đêm. Trên quốc lộ 13, ta chốt được 150 ngày khiến chính quyền Việt Nam Cộng hòa phải giành đất bằng… mẹo vặt: Cho lính giả làm thường dân, bí mật luồn vào khoảng cách giữa các chốt của ta rồi cắm cờ, tuyên bố “đã giải tỏa trên quốc lộ 13”, mời các nhà báo đi máy bay lên thăm quan, chụp hình.
Được tin này, ông Trị và chỉ huy trung đoàn đưa súng phòng không đón lõng bắn chặn buộc máy bay chở báo chí phải nâng độ cao. Đồng thời, bộ đội giật bộc phá gây khói mù mịt. Từ trên máy bay, báo chí không thấy cờ Việt Nam Cộng hòa như báo cáo, đều thống nhất loan tin “quân đội Việt Nam Cộng hòa tạo chiến công dỏm” khiến chính quyền Sài Gòn bẽ mặt.
'Không được vứt gia đình'
“Trước khi rút chạy khỏi Bình Long, phía Việt Nam Cộng hòa đưa một số vợ con sĩ quan vờ tháo chạy qua trận địa chốt. Mục đích của họ là nếu ta nổ súng thì vu cáo quân giải phóng bắn vào dân thường. Nếu ta để họ đi qua, sẽ bị lộ trận địa chốt. Nghe chốt báo cáo, chúng tôi gấp rút điều trinh sát và trợ lý địch vận chặn trước trận địa, giải thích cho họ rằng có mìn phía trước, rất nguy hiểm và dẫn họ đi vòng qua bên sườn chốt về hậu cứ. Ta phải nuôi họ mấy ngày để xin ý kiến cấp trên”, ông Trị kể.
 
Vũ khí mới của Liên Xô (cũ) trang bị cho bộ đội vào chiến đấu trong chiến trường miền Nam (năm 1965). Ảnh tư liệu
Trong số “người chạy loạn”, có 1 nữ nhà báo của chính quyền Sài Gòn. Chị có con là sĩ quan Việt Nam Cộng hòa, khi chạy khỏi Bình Long, chị mang theo quyển sách ảnh gia đình, trong đó có ảnh con trai. Chắc sợ liên lụy hoặc bộ đội tra hỏi nên khi bị dẫn từ chốt vào căn cứ, chị này vứt quyển sách ảnh đó đi. Chiến sĩ trinh sát phát hiện, nhặt cuốn ảnh báo cáo ông Trị.
Sau khi xem xong, thấy đây là hình ảnh của một gia đình sĩ quan Việt Nam Cộng hòa, ông Trị tìm chị nhà báo hỏi chuyện và đưa trả cuốn ảnh: “Bao nhiêu ảnh quý của gia đình, tại sao phải bỏ đi?”. Chị này thành thật: “Vì sợ Quân giải phóng trả thù gia đình sĩ quan Việt Nam Cộng hòa” khiến ông Trị cười phá, trước hàng trăm đôi mắt tròn xoe của những người dân và tỉ mẩn giải thích về chính sách nhân đạo và tình cảm gia đình, khiến ai cũng phục lăn.
Cuối năm 1972, kết thúc chiến dịch chốt chặn ở đường 13, trung đoàn 209 theo đội hình sư đoàn 7 chuyển xuống hoạt động ở vùng ven Sài Gòn để hoạt động. Ông Nguyễn Thế Trị được chọn đi học lớp bổ túc trung, sư đoàn H14 đóng tại Kampong Thom (Campuchia).
“Lớp học có nhiều cán bộ từng trải qua chiến đấu, qua thảo luận và sinh hoạt hằng ngày, tôi càng thấy rõ: Thực tiễn rất đa dạng và là người thầy nghiêm khắc, không cho phép người chỉ huy chủ quan, tự mãn. Một mệnh lệnh thiếu cân nhắc sẽ gây tổn hại biết bao xương máu chiến sĩ. Một ý tưởng cục bộ, lợi ích hẹp hòi, không vì cái chung sẽ làm mất thời cơ quý giá. Đồng nghĩa với đó là mất chủ động chiến trường, tổn hao binh lực. Lịch sử không có sự nếu như. Nhưng qua phân tích, rút kinh nghiệm, có thể giúp người chỉ huy sáng suốt, tránh vết xe đổ”, thượng tướng Nguyễn Thế Trị đúc kết như vậy và nhớ lại: “Kết thúc khóa học, các học viên rất sợ bị giữ lại làm giáo viên. Tôi... bị giữ, không làm cách nào xin về được nên lại phải ở trường Quân chính B2”. (Còn tiếp)
Mai Thanh Hải (Thanh Niên)

Có thể bạn quan tâm

Về lại ga xép

Về lại ga xép

Tôi đã cố cưỡng lại sự mời gọi của chuyến food tour (du lịch ẩm thực) tại trung tâm thành phố Hải Phòng (cũ) để xuống tàu sớm hơn ba ga.

Ngày mới bên sông Pô Cô

E-magazine Ngày mới bên sông Pô Cô

(GLO)- Sớm mai ở Ia Krái, dòng Pô Cô uốn lượn như dải lụa bạc giữa mênh mông cây cối. Nước sông lăn tăn, gợn sóng nhỏ vỗ vào bãi cát vàng, len qua vườn rẫy, tạo thành một bản hòa ca của thiên nhiên và con người.

Giữ cây thuốc quý giữa đại ngàn An Toàn

Giữ cây thuốc quý giữa đại ngàn An Toàn

(GLO)- Tự xa xưa người Bahnar ở đại ngàn An Toàn (tỉnh Gia Lai) đã biết sử dụng nhiều loài cây rừng để làm thuốc chữa bệnh. Kinh nghiệm được chắt lọc qua nhiều thế hệ, không chỉ chăm sóc sức khỏe cộng đồng mà còn thể hiện sự am hiểu sâu sắc về tự nhiên, góp phần gìn giữ giá trị y học dân gian.

Xây dựng thế trận lòng dân nơi tà đạo "Hà Mòn" đi qua - Kỳ cuối: Xây dựng thế trận lòng dân- tường lửa ngăn tà đạo

E-magazine Xây dựng thế trận lòng dân nơi tà đạo "Hà Mòn" đi qua - Kỳ cuối: Xây dựng thế trận lòng dân- tường lửa ngăn tà đạo

(GLO)- Ba đối tượng cốt cán cuối cùng của tà đạo “Hà Mòn” bị bắt giữ tại khu vực núi Jơ Mông (giáp ranh xã Hra và xã Lơ Pang) vào ngày 19-3-2020 đã đánh dấu bước ngoặt quan trọng, khép lại hành trình đấu tranh kéo dài hơn một thập kỷ.

'Sói biển' Lý Sơn và hành trình nối biển ra Hoàng Sa

'Sói biển' Lý Sơn và hành trình nối biển ra Hoàng Sa

Ở đặc khu Lý Sơn (Quảng Ngãi), lão ngư Dương Minh Thạnh được nhiều ngư dân gọi là “lão ngư Hoàng Sa” bởi có công “nối biển” Lý Sơn ra quần đảo Hoàng Sa. Ông còn được mệnh danh là “sói biển” Lý Sơn, bởi sức vươn khơi dẻo dai, từng 5 lần thoát chết thần kỳ giữa bão biển.

Xây dựng thế trận lòng dân nơi tà đạo "Hà Mòn" đi qua - Kỳ 3: Gieo lại niềm tin trên đất cũ

E-magazine Xây dựng thế trận lòng dân nơi tà đạo "Hà Mòn" đi qua - Kỳ 3: Gieo lại niềm tin trên đất cũ

(GLO)- Khi tà đạo “Hà Mòn” tan biến, trên những buôn làng ở xã Hra, xã Đak Pơ, niềm tin làm giàu đang được gieo lại từ chính mảnh đất cũ. Nhờ sự vào cuộc của cấp ủy, chính quyền, lực lượng chức năng cùng ý chí vươn lên của người dân, những vùng đất này đang chuyển mình mạnh mẽ. 

Những chuyện tình xuyên biên giới ở Ia O

Những chuyện tình xuyên biên giới ở Ia O

(GLO)- Trên vùng biên Ia O (tỉnh Gia Lai), dòng Pô Cô vừa là ranh giới tự nhiên, vừa là nhịp cầu kết nối lương duyên. Từ những lần qua lại thăm thân, dự lễ hội, nhiều mối tình nảy nở, hình thành nên những mái ấm xuyên biên giới bình dị, bền bỉ, góp phần dệt nên diện mạo riêng nơi phên giậu Tổ quốc.

Làng bồng bềnh trên dòng Pô Kô

Làng bồng bềnh trên dòng Pô Kô

Giữa miền biên viễn phía tây Gia Lai, trên dòng Pô Kô hùng vĩ, hàng chục gia đình từ Tây Nam bộ tìm đến lập nghiệp, dựng nên những căn nhà nổi chông chênh giữa sóng nước. Cuộc mưu sinh lặng lẽ thể hiện nghị lực của con người, ý chí bám trụ và khát vọng sống chan hòa cùng sông nước.

Bấp bênh xóm chài vùng biên

Bấp bênh xóm chài vùng biên

(GLO)- Xóm chài trên mặt hồ thủy điện Sê San (làng Tăng, xã Ia O) hiện có 17 hộ với 58 nhân khẩu, đến từ các tỉnh ở miền Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ. Không đất ở, thiếu giấy tờ tùy thân, họ tự dựng nhà bè, bám lấy con nước để mưu sinh.

null