Sống trên đỉnh núi-Kỳ 4: Đúc lưỡi cày

Theo dõi Báo Gia Lai trên Google News

Với người Mông, chiếc lưỡi cày không đơn thuần là tinh hoa của nền nông nghiệp trên núi đá mà còn là niềm tự hào của dân tộc họ bởi cho đến bây giờ, chỉ có những lò rèn người Mông mới đỏ lửa đúc được những lưỡi cày độc đáo này.


Nghề tự biết

“Nhóm đàn ông họ Chứ đang uống rượu bên đó là những người đúc lưỡi cày có tiếng ở đây!” - một chàng trai dân tộc Giáy tại chợ phiên Mèo Vạc (Hà Giang) nói.

Chúng tôi dễ dàng nhận ra nhóm đàn ông vận đồ thâm đen đặc trưng của người Mông đang ngồi uống rượu ngô, hút thuốc lào với mười cái lưỡi cày bày bán trước mặt. Khá đông người đến chọn hàng, họ cầm thanh sắt đánh vào thân lưỡi, ưng ý thì trả tiền, để lại cái lưỡi cũ đã bị gãy mang theo rồi cầm cái lưỡi mới đi...

 

Cha con ông Chứ Dung Xíu và Chứ Mí Cho luyện thép đúc lưỡi cày.
Cha con ông Chứ Dung Xíu và Chứ Mí Cho luyện thép đúc lưỡi cày.

Sau phiên chợ, chúng tôi lần theo địa chỉ tìm đến họ Chứ ở bản Sủng Cáng, xã Sủng Trà, cách thị trấn Mèo Vạc non 20 km. Ngay từ đầu con đường đất dẫn vào, chàng trai chỉ đường có ý ngăn cản: “Đường khó đi lắm, không tới nơi được đâu!”.

Đúng là ít thấy con đường nào khó đi như con đường dẫn vào Sủng Cáng này, vừa nhỏ hẹp, dốc cao lắt lẻo men theo những đỉnh núi dài nối tiếp nhau, bên dưới là vực sâu không dám nhìn xuống; mặt đường toàn đá dăm lởm chởm, sương phủ mờ giăng bốn phía...

Non chục cây số trên con đường vắt vẻo qua những triền núi đá như thế, xe máy phải chạy số 1 liên hồi. Cuối cùng, chúng tôi cũng đến được xóm “lò” Sủng Cáng với mấy nóc nhà trên triền một ngọn núi đá.

Lò nhà ông Chứ Dung Xíu, một trong ba gia đình họ Chứ ở đây, hôm nay đỏ lửa. Với tiếng Kinh lơ lớ, ông Xíu niềm nở tiếp đón chúng tôi, bảo rằng cứ tự nhiên như ở nhà, quay phim chụp ảnh tự do thoải mái: “Người Mông không giấu nghề làm gì, học được thì các chú cứ học để phổ biến cái lưỡi cày Mông!”.

Cùng đúc với ông là người con trai Chứ Mí Cho, 28 tuổi, rất cần mẫn và chăm chú.

Lò đúc hoàn toàn thủ công, bệ sục bằng gỗ đặt liền với lò luyện gang cùng một lỗ tròn ở giữa, thông với cửa vòm đặt nồi quặng bên dưới. Cho đang ngồi hoàn thiện phần khuôn.

Anh tỉ mẩn dùng tay lấy từng nhúm nhỏ “vữa” than và đất sét rồi khéo léo tạo nên từng chi tiết cho mặt khuôn. Vừa tạo vừa ngắm rồi chỉnh sửa, làm láng... Xong mặt khuôn là đến nắp và phần cáng cũng với những động tác tương tự.

 

Thợ đúc họ Chứ ở Sủng Cáng bày bán lưỡi cày tại chợ phiên Mèo Vạc.
Thợ đúc họ Chứ ở Sủng Cáng bày bán lưỡi cày tại chợ phiên Mèo Vạc.

Cho khẳng định một trong những công đoạn khó nhất chính là làm khuôn lưỡi với độ cong hoàn hảo và chính xác. Chính độ cong hoàn hảo này mà lưỡi cày mới chịu được đá, mới có thể len lỏi qua các hốc đá trên những đỉnh núi cao. Công đoạn quan trọng bậc nhất vẫn là luyện gang bằng cái bệ thủ công.

“Nguyên liệu luyện gang cũng được tính toán kỹ, quá dẻo hay quá giòn đều tối kỵ trong việc đúc lưỡi cày. Tất cả nguyên liệu phải có độ cứng vừa phải” - Cho quả quyết.

Công đoạn khó khăn, đòi hỏi cả kinh nghiệm lẫn sự công phu chính là đổ gang vào khuôn đúc. Khi lò được đốt nóng, họ bỏ than và quặng vào; người cha liên tục sục, bụi khói mù mịt, những tiếng nổ than lách tách, tia lửa bay tung tóe. Khi quặng tan chảy, họ lấy nồi quặng đỏ rực đổ vào khuôn.

Phần làm nguội thì đã có người con trai Chứ Mí Sai (26 tuổi) lo liệu...

Công việc đang tiến hành thì cậu con trai của Chứ Mí Cho là Mí Nô (7 tuổi) cũng vừa tan học về chạy ngay vào lò. Cậu bé không làm việc gì nhiều, chỉ thỉnh thoảng sục bệ thay ông. Còn phần lớn thời gian thì nhìn cha và ông làm việc.

Đó cũng chính là cách học nghề của người Mông, họ không cầm tay chỉ việc và trao truyền trực tiếp mà chỉ quan sát, rồi những hình ảnh, công đoạn, thao tác của bí kíp đúc lưỡi cày cứ thế như thấm vào máu, nhập vào trí não...

Đó là lý do mà nhiều thiếu niên Mông trạc 14-15 tuổi đã tự mình thuần thục công việc đúc lưỡi cày, mà khi chúng tôi hỏi học nghề từ ai thì họ đều trả lời: “Nghề này tự biết!”.

Không học được người Mông

Ở bản Sủng Cáng, cả hai anh em Chứ Mí Cho và Chứ Mí Sai đều là hai tay thợ trẻ tài hoa của họ Chứ. Sai nói với vẻ tự hào rằng chỉ có mỗi dân tộc Mông mới biết cách đúc lưỡi cày, đặc biệt là chỉ người họ Chứ mới đúc lưỡi cày tốt và chống chọi được với đá mà thôi.

Sai không nhớ mình có ý theo học nghề đúc từ khi nào, song anh cho biết tự mình làm thuần thục tất cả các khâu từ rất sớm, lúc mười mấy tuổi.

 

Những đứa trẻ họ Chứ người Mông xem cách làm lưỡi cày từ khi còn rất nhỏ.
Những đứa trẻ họ Chứ người Mông xem cách làm lưỡi cày từ khi còn rất nhỏ.

Chia sẻ câu chuyện nghề, Sai cho biết một điều khá nghịch lý: “Ở nghề đúc lưỡi này, những người nằm trong lứa tuổi thanh niên mà lành nghề mới đúc nên lưỡi đẹp nhất!”. Chúng tôi há hốc mồm: “Phải là bậc nghệ nhân già chứ, sao trẻ lại đúc đẹp hơn người già có kinh nghiệm được!”.

Sai diễn giải: “Nghề này mắt nhanh kém lắm. Chỉ người trẻ tuổi mắt còn tinh tường mới làm cho chuẩn những đường cong, đường thẳng sắc nét và hợp lý của cái lưỡi cày. Còn người già mắt kém rồi, nhìn không ra!”.

Đó cũng là lý do anh cho biết người cha Chứ Dung Xíu, mới 56 tuổi, nhưng nhiều năm rồi không tự mình đứng lò làm chính mà nhường vai trò này cho con trai.

Thực ra nghề đúc lưỡi cày ở Sủng Cáng không như các nghề truyền thống làm quanh năm ở miền xuôi, mà chỉ đỏ lửa trong khoảng ba tháng đầu năm, khi mưa xuống thấm ướt các hốc đá trên những đỉnh núi ở cao nguyên đá Đồng Văn. Đó cũng là thời điểm người dân lên núi cày đất trồng ngô trên các hốc đá.

Bởi thế, những người đàn ông họ Chứ ngoài nghề đúc lưỡi cày còn làm đủ thứ nghề, từ làm nương rẫy trên núi cao hay đi lái trâu bò đem ra chợ phiên, hoặc tìm trên đỉnh núi những loại thảo dược, mấy loại thực phẩm quý hiếm mang về chợ huyện bán...

Ông Vàng Mí Dình, chủ tịch Ủy ban MTTQ huyện Mèo Vạc, cho biết trong nhiều năm liền, nhiều cán bộ trong huyện có ý kiến vì sao chính quyền không tổ chức học đúc lưỡi cày của người Mông để giữ gìn và phát huy sản phẩm nghề truyền thống của người dân địa phương. Phòng công thương của huyện là đơn vị chủ trì đề án này, đã tổ chức đưa người vào các bản Mông học nghề đúc lưỡi cày. “Nhiều người cũng đến học, quan sát, ghi chép đầy đủ và về làm y chang. Nhưng lưỡi đúc ra cày không được vì bị đất dính vào. Lưỡi đúc xong phát cho dân, dân đem đi đổi lưỡi của người Mông đúc, họ đập ra đúc lại. Công việc vì thế thất bại” - ông Vàng Mí Dình nói.

Theo tuoitre

Có thể bạn quan tâm

“Thần y trị điểu”

“Thần y trị điểu” ở An Khê

(GLO)- Hàng chục năm qua, căn nhà của anh Hoàng Huy (SN 1992, ở tổ 1, phường An Khê, tỉnh Gia Lai) luôn ríu rít tiếng chim. Ở đó, anh Huy âm thầm cứu chữa cho hàng trăm chú chào mào mắc bệnh từ khắp nơi gửi về.

Ấm áp những ngôi nhà tái định cư

Ấm áp những ngôi nhà tái định cư

(GLO)- Về thăm những khu tái định cư vùng thiên tai trên địa bàn tỉnh Gia Lai, chúng tôi cảm nhận được mùa xuân ấm áp đang về cùng với sắc hoa tươi thắm, khung cảnh sản xuất, sinh hoạt nhộn nhịp đang định hình trên vùng đất mới.

Ngôi làng Bahnar bị "bỏ quên" giữa núi rừng.

Ngôi làng Bahnar bị "bỏ quên" giữa núi rừng

(GLO)- Một ngôi làng Bahnar không người ở, bị "bỏ quên" giữa núi rừng Tây Nguyên nhưng vẫn hấp dẫn nhiều du khách ghé thăm nhờ vẻ đẹp nguyên sơ của thiên nhiên và kiến trúc nhà truyền thống. Đó là làng Kon Sơ Lăl cũ (xã Ia Khươl, tỉnh Gia Lai).

Tỷ phú nuôi bò ở Chư A Thai

Tỷ phú nuôi bò ở Chư A Thai

(GLO)- Sáng nào cũng vậy, khi mặt trời vừa lên khỏi dãy núi Chư A Thai, ông Nguyễn Kim Tống (thôn Thanh Thượng, xã Chư A Thai) lại tự lái ô tô vượt quãng đường gần 40 km sang xã Pờ Tó để kiểm tra từng khu chuồng trại, từng đàn bò.

Rẫy chung ở Đak Đoa

Rẫy chung ở Đak Đoa

(GLO)- Giữa những đồi cà phê vào độ chín rộ ở xã Đak Đoa, có những khu rẫy không thuộc về riêng một hộ nào. Đó là rẫy chung - mảnh đất “không chia phần” của cộng đồng, nơi bà con cùng góp công vun trồng, chăm sóc qua từng mùa, lặng lẽ tích lũy thành nguồn lực chung để lo việc thôn, việc làng.

Xuân về làng gốm 500 năm tuổi

Xuân về làng gốm 500 năm tuổi

Từng đoàn khách dập dìu men theo con đường nhỏ dẫn vào làng gốm Thanh Hà (phường Hội An Tây, TP. Đà Nẵng). Ngôi làng nhỏ gần 500 năm tuổi bên dòng Thu Bồn, nơi các thế hệ truyền nhau gìn giữ làng nghề nổi danh xứ Quảng.

Dựng cơ đồ bạc tỷ trên cát trắng

Dựng cơ đồ bạc tỷ trên cát trắng

(GLO)- Trên vùng đất cát trắng bạc màu, “khỉ ho cò gáy”, nông dân Nguyễn Xuân Ánh (SN 1972, thôn Thuận Phong, xã Hội Sơn) đã bền bỉ dựng nên một trang trại tổng hợp gần 10 ha, bình quân lợi nhuận 500 - 700 triệu đồng/năm.

Bình yên sau những ngày lạc lối

Trở về con đường sáng sau những ngày lạc lối

(GLO)- Thời gian qua, lực lượng Công an tỉnh Gia Lai đã kiên trì bám cơ sở, cùng cấp ủy, chính quyền địa phương, người có uy tín cảm hóa, thức tỉnh những đối tượng từng nghe theo tổ chức phản động FULRO. Nhờ đó, nhiều người đã từ bỏ những việc làm sai trái, quay về với con đường sáng và vòng tay yêu thương của buôn làng.

Tết này, người dân vùng bão lũ có nhà mới

Tết này, người dân vùng bão lũ có nhà mới

(GLO)- Càng gần đến Tết Nguyên đán, những căn nhà mới của người dân vùng bão lũ càng hiện rõ hình hài. Khi những mái ấm được dựng lên từ mồ hôi, công sức của bộ đội và sự chung tay của cộng đồng, mùa xuân cũng kịp về sớm hơn với những gia đình lam lũ từng chịu nhiều mất mát do thiên tai.

Pơtao Apui: Vua Lửa của người Jrai

Pơtao Apui: Vua Lửa của người Jrai

(GLO)- Ở khu vực phía Tây tỉnh, trên vùng đất Chư A Thai, truyền thuyết về Pơtao Apui - Vua Lửa của người Jrai đến nay vẫn còn vang vọng. Điều này không chỉ lưu giữ một di sản độc đáo của Tây Nguyên, mà đang trở thành không gian văn hóa - du lịch.

Mưu sinh bên miệng 'tử thần'

Mưu sinh bên miệng 'tử thần'

Khi màn đêm còn phủ đặc sương mặn, cũng là lúc những chiếc thuyền thúng nhỏ bé bắt đầu nghiêng mình lao vào biển động. Ở các làng chài bãi ngang Quảng Ngãi, mùa mưa bão không phải thời điểm trú ẩn, mà trái lại là “mùa vàng” hiếm hoi.

Ký ức lúa nương thiêng

Ký ức lúa nương thiêng

(GLO)- Trên những triền núi ở xã Vân Canh (tỉnh Gia Lai), đồng bào người Chăm H’roi và Bahnar vẫn gieo trồng lúa nương. Với họ, đây không chỉ là vụ mùa mà quan trọng hơn là cách gìn giữ ký ức của cha ông, hương vị thiêng quý của núi rừng.

null