Lan tỏa tự hào đến mai sau

Theo dõi Báo Gia Lai trên Google News
Hệ thống các tấm bia đá ghi công 7 anh hùng liệt sĩ hy sinh tại chiến trường miền Nam được đặt dựng ở đất thép Vĩnh Linh (Quảng Trị) 65 năm trước đã trở thành động lực lớn lao, là niềm tự hào không riêng gì Quảng Trị mà cả quê hương các anh hùng, của đồng bào khắp cả nước. Đến hôm nay, những tấm bia đặc biệt ấy càng được xem là hiện vật quý giá, thiêng liêng có giá trị sâu sắc về lịch sử.
Người dân Vĩnh Linh xúc động trước hàng bia ghi công 7 anh hùng tại NTLS H.Vĩnh Linh.

Người dân Vĩnh Linh xúc động trước hàng bia ghi công 7 anh hùng tại NTLS H.Vĩnh Linh.

Trước mắt chúng tôi là dãy 8 tấm bia đá đặc biệt ở khu vực Đài ghi công liệt sĩ tại Nghĩa trang liệt sĩ (NTLS) H.Vĩnh Linh. Trong đó, tấm thứ 8 có nội dung về thời gian thi công, hoàn thành công trình Bia 7 anh hùng liệt sĩ hy sinh trong cuộc kháng chiến chống Pháp trên chiến trường miền Nam. Dấu vết của bom đạn chiến tranh cày xé những dòng ghi trên tấm bia đá nhưng không vì thế mà chiến công lẫy lừng gắn với tên tuổi của các anh hùng bớt đi sự lấp lánh. Tuy không có nhiều văn bản, tư liệu liên quan đến quá trình xây dựng nhưng thật may mắn khi quản trang NTLS H.Vĩnh Linh đã gìn giữ rất kỹ cuốn bản sao tài liệu đánh máy "Trích yếu tiểu sử và tóm tắt thành tích 7 anh hùng liệt sĩ" giúp nhiều người chưa từng biết đến hệ thống bia có một không hai này thêm cơ hội để tìm hiểu, để lan tỏa tự hào.

Năm 1958, nhằm xây dựng nên biểu tượng Nam - Bắc một nhà, động viên cả nước phát huy tinh thần kiên cường, bất khuất, đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất non sông về một mối, Nhà nước đã cho xây dựng "Đài ghi công liệt sĩ đã hy sinh vì Tổ quốc và bia 7 anh hùng đã hy sinh trong kháng chiến chống Pháp trên chiến trường miền Nam" tại Đặc khu Vĩnh Linh lúc bấy giờ. Vị trí xây dựng là trên đồi cách cầu Hiền Lương hơn 5km. Công trình được khởi công vào ngày 20- 4 -1958, hoàn thành ngày 27 - 7 cùng năm. Mỗi tấm bia cao 1,5m, rộng 1m, được khắc thông tin cơ bản về con người cùng những chiến công oanh liệt của mỗi anh hùng. Bia thứ nhất ghi công Liệt sĩ Trần Đức (1917, quê ở Hải Yến, Tĩnh Gia, Thanh Hóa), là một chiến sĩ bắn trung liên rất giỏi, góp phần quyết định thắng lợi trong nhiều trận gay go. Qua 40 trận trên chiến trường Liên khu 5, đồng chí Trần Đức đã tiêu diệt 200 tên địch. Điển hình năm 1947, 2 đại đội địch chia làm 2 cánh tấn công vào đơn vị trên đèo Hải Vân, đồng chí Đức dùng súng máy đánh bật 2 lần, tấn công diệt 26 tên, tạo điều kiện cho đơn vị xung phong diệt địch. Tháng 11-1949, địch tấn công với lực lượng đông gấp 10 lần, đồng chí Đức bắn trung liên mở đường cho đơn vị rút ra ngoài; hết đạn, đồng chí giao súng cho đồng đội rồi cõng đại đội trưởng bị thương chạy đi nhưng bị địch xông đến. Đồng chí kháng cự đến cùng và hy sinh anh dũng.

Đài ghi công liệt sĩ và bia 7 anh hùng tại thời điểm năm 1983, khi chưa xây dựng NTLS H.Vĩnh Linh.

Đài ghi công liệt sĩ và bia 7 anh hùng tại thời điểm năm 1983, khi chưa xây dựng NTLS H.Vĩnh Linh.

Bia số 2 ghi công Liệt sĩ Lê Công Khai (1925, ở xã Hoằng Phú, H.Hoằng Hóa, Thanh Hóa), khi hy sinh là Đại đội trưởng thuộc Liên khu 5 vào năm 1954. Trước đó, gần 9 năm trong quân đội, đồng chí Khai luôn nêu cao tinh thần bất khuất, dũng cảm. Trong đó có trận đánh đồn Túy Loan (Quảng Nam - Đà Nẵng) vào tháng 5-1952, cửa vừa mở địch tập trung bắn dữ dội nhưng đồng chí Khai bình tĩnh chỉ huy trung đội đánh chiếm lô cốt rồi phát triển đánh vào hầm đại bác và sở chỉ huy. Bị thương vào chân nhưng đồng chí kiên quyết chỉ huy đơn vị chiến đấu đến khi giải quyết xong đồn địch. Bia số 3 là về Liệt sĩ Nguyễn Đô Lương (1923, xã Đức Quang, H.Đức Thọ, Hà Tĩnh). Tham gia bộ đội, 8 năm làm trinh sát, đồng chí Lương đã dự nhiều trận trên chiến trường Liên khu 5, có lần bị thương vẫn xin ở lại chiến trường. Tháng 5-1953, đồng chí Lương phụ trách điều tra Hòn Bàng (Quảng Nam), vị trí trọng yếu nên địch canh phòng rất cẩn mật. Vậy mà đồng chí và các trinh sát 3 lần vào đồn trinh sát tỉ mỉ. Đến lần cuối, đồng chí Lương bị phục kích nhưng đã kịp hô to để anh em chạy thoát. Địch tra tấn dã man nhưng không khuất phục được người chiến sĩ trung kiên này nên đã giết, cắm cọc, bêu đầu. Bia thứ 4 ghi công Liệt sĩ Trương Văn Ly (1924, quê xã Võ Ninh, H.Quảng Ninh, Quảng Bình). Trước khi hy sinh vào năm 1952, đồng chí Ly đã chiến đấu 100 trận ở chiến trường Nam Trung Bộ, luôn luôn xung phong ở bộ phận xung kích chỉ huy quân đội cảm tử, chiến đấu dũng cảm, mưu trí. Bia thứ 5 là về Liệt sĩ Ngô Mây (1924, xã Cát Chánh, H.Phù Cát, Bình Định). Năm 1947, đồng chí Ngô Mây từ biệt mẹ già và vợ chưa cưới lên đường diệt giặc. Trở thành chiến sĩ trong Trung đội quyết tử. Tháng 10-1947, đơn vị được lệnh chuẩn bị lên đường chiến đấu và cần 1 chiến sĩ ôm bom diệt địch. Tất cả đều giơ tay xung phong, trong đó có đồng chí Mây. Đêm hôm đó, đồng chí Mây ngồi viết thư bằng máu gửi Ban chỉ huy xin dành cho mình vinh dự được ôm bom diệt địch. Giờ chiến đấu đã tới, đồng chí Ngô Mây và đơn vị phục kích một quãng đường hiểm trở đón xe cơ giới địch ở Pleiku xuống An Khê. Đêm đó, đồng chí Ngô Mây mở chốt bom, tiêu diệt hơn một trung đội địch. Trong trận sinh tử ấy, đồng chí cũng đã anh dũng hy sinh.

Bia thứ 6 rạng ngời chiến công Liệt sĩ Ngô Chí Quốc (1929), xã Hiệp Bình, Q.Thủ Đức, Gia Định (cũ). Tham gia bộ đội vào năm 1946, đồng chí Quốc dự 100 trận trên chiến trường Nam Bộ, góp phần chủ yếu cho tiểu đoàn diệt 941 tên địch, bắt sống 38 tên, thu 231 súng các loại. Đồng chí hy sinh vào năm 1954 trong trận đánh cầu Đình. Và bia thứ 7 là về Liệt sĩ Wừu (hy sinh năm 1952), dân tộc Ba Na ở Gia Lai, tham gia phong trào chống Pháp của nhân dân Ba Na từ năm 1939. Trong những năm địch xâm chiếm và khủng bố gắt gao, đồng chí Wừu (là Chủ tịch xã kiêm xã Đội trưởng du kích) đã bền bỉ cùng với nhân dân, đồng bào, kiên quyết đấu tranh với địch, nhiều lần bị địch bắt nhưng một mực không khai báo, giương cao khí phách chiến sĩ cách mạng, tìm cách trốn thoát về tiếp tục hoạt động. Trong 1 lần bị địch phục kích bắt được, chúng tra tấn rất dã man, xẻo mũi nhưng không khuất phục được người con anh dũng của đồng bào Ba Na, mà còn bị người anh hùng lừa đến hầm chông làm chúng bị chết, bị thương hàng chục tên. Và anh hùng Wừu cũng đã hy sinh… Tất cả 7 liệt sĩ đều được Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh truy tặng danh hiệu "Anh hùng quân đội và Huân chương Quân công hạng Nhì" vào dịp kỷ niệm 2 năm chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ và Quốc khánh 2-9-1955.

Vào năm 1983, NTLS H.Vĩnh Linh được xây dựng tại khu vực Đài ghi công liệt sĩ và bia 7 anh hùng. Hệ thống bia được giữ gìn nguyên trạng, bảo vệ cho đến hôm nay. Tuy nhiên, do bom đạn khiến hầu hết các tấm bia đều bị hư hỏng, không còn nguyên vẹn. Cùng với thời gian, công trình xuống cấp. Người dân Vĩnh Linh, Quảng Trị cũng như nhiều người dân cả nước nói chung mong mỏi các ngành chức năng Quảng Trị sớm quan tâm nâng cấp, tôn tạo những hiện vật giá trị này để phát huy tầm vóc lịch sử, giáo dục truyền thống, góp phần lan tỏa niềm tự hào đến mai sau.

Có thể bạn quan tâm

Những dấu vết bí ẩn ven sông Ba

Những dấu vết bí ẩn ven sông Ba

(GLO)- Men theo bờ sông Ba đoạn chảy qua buôn Tơnia (xã Ia Rsai, tỉnh Gia Lai), khi nắng cuối ngày hắt những tia vàng lấp lánh trên mặt nước, chúng tôi bắt gặp những vật thể lạ nhô lên khỏi lớp đất sét. 

Miếu thờ liệt sĩ bên suối Hội Phú

Miếu thờ liệt sĩ bên suối Hội Phú

(GLO)- Không biết tên tuổi, quê quán những người lính hy sinh trong trận đánh Tết Mậu Thân 1968 tại Pleiku, người dân bên suối Hội Phú (phường Hội Phú, tỉnh Gia Lai) vẫn âm thầm thắp những nén nhang rồi lập miếu thờ ngay nơi các anh từng nằm xuống. 

Vị Xuyên - Bạn tôi vẫn còn đó

Vị Xuyên - Bạn tôi vẫn còn đó

(GLO)- Vùng biên giới Vị Xuyên, tỉnh Tuyên Quang (Hà Giang cũ) hôm nay đã đổi thay, nhưng những người đồng đội của tôi vẫn còn đó, nằm ngay ngắn trong đội hình “hàng thẳng hàng, lối thẳng lối, quân dung tươi tỉnh” tại Nghĩa trang Liệt sĩ Quốc gia Vị Xuyên.

Chiếc a chói giữa rừng Trường Sơn

Chiếc a chói giữa rừng Trường Sơn

Dưới mái hiên nhà sàn ở xã La Lay (Quảng Trị), tiếng dao chẻ tre vang lên đều đặn giữa buổi sớm. Nghệ nhân Hồ Văn Thành ngồi bên bó mây vừa lấy từ rừng về. Ông tỉ mẩn đường dao chuốt từng sợi nan tre. Ở miền tây Quảng Trị, hình ảnh ấy không hiếm gặp...

Nghị lực phi thường của người thương binh hạng nặng Lê Thái Hà

Nghị lực phi thường của người thương binh hạng nặng Lê Thái Hà

(GLO)- Khi bị thương nặng tại chiến trường Campuchia, ông Lê Thái Hà (trú phường Bình Định, tỉnh Gia Lai) không nghĩ mình sẽ sống sót. Phục viên với sức khỏe suy giảm đến 91%, ông cũng từng không dám mơ đến những điều xa xôi về tương lai. Vậy mà người cựu chiến binh ấy đã can trường vượt qua tất cả.

4 ngày làm vợ, 54 năm đợi chờ

4 ngày làm vợ, 54 năm đợi chờ

Sau 54 năm kể từ ngày liệt sĩ Nguyễn Văn Đinh ngã xuống trên chiến trường Quảng Trị, bà Nguyễn Thị Ngọ (Nghệ An) mới được đứng trên mảnh đất ông hy sinh. Hành trình ấy khép lại nỗi khắc khoải của một người vợ, nhưng mở ra câu chuyện lay động về tình yêu, sự thủy chung không phai theo năm tháng.

'Bí kíp' nón ngựa nghĩa quân Tây Sơn

'Bí kíp' nón ngựa nghĩa quân Tây Sơn

Nghệ nhân ưu tú Đỗ Văn Lan (80 tuổi, ông Ba Lan) đang giữ nguyên vẹn “bí kíp” tổ truyền làm “nón ngựa Phú Gia” mà ngày xưa nghĩa quân Tây Sơn đội nắng mưa hành quân thần tốc. Những chiếc nón không chỉ như một tác phẩm nghệ thuật mà còn rất bền.

Tiếng vọng trong những phiến đá rêu phong

Tiếng vọng trong những phiến đá rêu phong

(GLO)- Ẩn mình dưới tán rừng già trên dãy núi Bích Kê, lũy đá cổ Phú Hà (thôn Hòa Tân, xã Phù Mỹ Bắc) lặng lẽ tồn tại như một chứng nhân của thời gian. Những bức tường đá phủ rêu bền bỉ trước mưa nắng dường như đang gìn giữ câu chuyện về một vùng đất từng giữ vị trí trọng yếu trong lịch sử.

Chợ ở Quy Nhơn xưa

Chợ ở Quy Nhơn xưa

Với vùng đất Quy Nhơn xưa (nay thuộc tỉnh Gia Lai), tìm hiểu những ngôi chợ cũ cũng là lần giở lại ký ức về quá trình hình thành và phát triển của một đô thị thương cảng, đặc biệt trên phương diện giao thương.

null