Kỳ cuối: Bản giao hưởng từ những vùng đất khó

Theo dõi Báo Gia Lai trên Google News

(GLO)- Rừng cao su vào mùa thay lá mang một vẻ đẹp thật khó tả. Bắt đầu là một sắc vàng miên man siêu thực để rồi sau đó một rừng nụ từ từ hé mở, lấp dần những ô trời bằng triệu triệu chấm xanh mỡ màng…

Phép màu mang tên “cao su”

Chiều muộn, tôi đi dưới tán rừng xào xạc mùa trở gió, lâng lâng với bao cảm xúc không đầu không cuối của riêng mình. Những lô cao su trước mắt tôi đây, xưa là khoảnh rừng hoang lỗ chỗ những hố đào củ mài của dân làng Quen Grai (xã Ia Me, huyện Chư Prông) mùa giáp hạt. Ở làng Quen Grai có một con người khá đặc biệt-đó là ông Puih Blang. Thời chống Mỹ, ông là Xã đội trưởng-chính là người đã cặp rèn rồi đưa người anh hùng nhỏ tuổi Kpă Klơng vào du kích. Một chiều mưa tầm tã, tôi đã tìm đến nhà ông để bòn chút tư liệu cho bài báo Tết. Câu chuyện về Klơng hôm đó hóa ra chỉ chiếm một dung lượng nhỏ. Phần lớn thời gian tôi đã phải nghe nỗi lòng đau đáu của một con người bom đạn kẻ thù không ngại mà bất lực trước nỗi khổ cực của dân làng. Thắng Mỹ hơn hai chục năm rồi mà sao làng ông-chỉ mỗi mong ước giản dị là có đủ cơm ăn vẫn mỗi lúc mỗi xa vời. Hột lúa của ông bà sao cứ như biết chạy. Mới tuốt lúa chưa đầy tháng, làng đã có người đói rồi. Hột lúa chạy về đâu, Puih Blang biết lắm. Cái áo, cái quần, thậm chí đến chiếc kẹo, cái bánh cho con cũng lúa. Mà hột lúa thì mỗi lúc một gầy. Nắng gió bao đời đã vắt kiệt đất. Hột lúa chạy đi, cái xấu theo đến. Ai đời phạt vạ càng nhiều mà ai cũng mừng (!) Ấy là cái cớ ngồi với nhau cho quên nỗi buồn. Biết mình, biết làng mỗi ngày càng bị dắt sâu vào chỗ tối mà không ai nghĩ được lối ra.


 

 Bộ đội hướng dẫn công nhân người Jrai kỹ thuật khai thác mủ. Ảnh: N.T
Bộ đội hướng dẫn công nhân người Jrai kỹ thuật khai thác mủ. Ảnh: N.T

Có thể nào tin được đây từng là một ngôi làng đói rét, lạc hậu đến xót xa? Vậy mà từ ngày cây cao su đến, Quen Grai đã lột xác như có phép màu. Những căn nhà tôn sùm sụp rỉ rét, đen sì muội khói; những túp lều tranh trơ xương vì gió thốc bây giờ đã được thay hầu hết bằng những ngôi nhà gạch, mái tôn đỏ chói… Miên man với những tên làng, tên người nơi đứng chân của các công ty 72, 74, 75, Mang Yang, Chư Sê… cũng đã qua những năm tháng đói nghèo như thế và còn hơn thế, tôi lại chợt quay về với cái ý nghĩ lẩn thẩn rằng giả sử một sớm mai nào đó ta thức dậy, cái mảng xanh ngỡ chừng không biên giới trên miền đất Gia Lai này bỗng dưng biến mất? Thật khó để hình dung cuộc sống của hàng trăm ngôi làng ấy, hàng vạn con người ấy giờ sẽ thế nào. Đành rằng bản chất của cuộc sống là sự phủ định những giá trị lạc hậu, lỗi thời nhưng sự phủ định tịnh tiến là khác với sự tiến bộ bằng xúc tác… Có thể có người cho rằng cuộc sống của nhiều người làm cao su đến nay vẫn chưa giàu có gì. Đúng vậy. Nhưng đã là công nhân cao su thì chẳng còn ai thuộc diện nghèo. Và bao nhiêu công nhân có tài sản giá trị tiền tỷ nhờ thêm “nghề tay trái” thì cũng không thể chối bỏ cội nguồn là nhờ sự xúc tác từ cây cao su… Cây cao su đã mang đến một cuộc cách mạng trong nếp nghĩ, cách làm cho bao vùng đất, bao con người. Và không chỉ thế, những giá trị ấy còn tạo nên sự cộng hưởng cho cả những vùng đất, những con người ngoài cương giới. Tạo nên giá trị tài sản hàng vạn tỷ đồng, nộp ngân sách nhà nước mỗi năm hàng trăm tỷ đồng là lớn-nhưng những giá trị về mặt xã hội  mà ngành cao su mang đến cho vùng đất Gia Lai mới thực sự có ý nghĩa nhất. Ngẫm nghĩ và chợt nhận ra dung lượng của phóng sự này đã không đủ sức ôm hết một đề tài quá lớn. Câu chuyện về làng Poong (xã Ia Dơk, huyện Đức Cơ) và Rơmah MRao có thể sẽ là một cái kết tạm cho huyền sử chặng đường 40 năm cây cao su đứng chân trên đất Gia Lai này.

Ngày mới ở làng Quen Grai

…Cái năm 94 (1994) ấy làng Poong đói lắm. Làm lúa rẫy, bình thường cứ đến tháng ba đã hết ăn huống chi lại gặp lúc mất mùa. Người người đi vật vờ trên đường như bị con ma lấy mất vía, con mắt lặn sâu như hố củ mài; đến cái khố đeo trễ xuống mà cũng chẳng buồn kéo nó lên nữa. May sao gặp lúc nhà Rơmah MRao đang cúng con ma. Đói thế này mà có thịt trâu ăn, có rượu uống thì còn nói gì được nữa. Giá mà nó cứ cúng miết thế này cho đến lúc Yàng cho mưa.

Cả tháng nay rồi, chiều nào MRao cũng ngồi ôm đầu gối vào bụng. Cảnh làng, cảnh nhà-hai cái buồn gộp lại khiến trong ruột như có bàn tay ai cào. Vợ MRao đau. Không biết bệnh gì mà trong ngực cứ như có con gõ kiến mổ rồi ho, khạc ra máu. Thầy cúng Rơ Ma Chênh đến lấy quả trứng gà đập ra, đổ vào chén săm soi một lúc rồi bảo: “Thế này là vợ mày bị con ma nó núp trong phổi, phải đập trâu cúng thì mới hết được”. Chẳng chần chừ, MRao cho đập con trâu kèm một con heo, hai chục ghè rượu để cúng. Cả làng say mềm như cây chuối bị vặn gốc suốt 2 ngày. Xong việc, MRao còn phải tạ thầy một gùi lúa to nữa. Vậy mà lạ, chẳng thấy vợ đỡ chút nào? Hỏi, thầy lại bảo: “Vợ mày bị con ma ăn đã lâu, phải cúng thêm nữa thì nó mới chịu”. Lại phải nghe thầy. 1 tháng ròng rã cúng, mất 10 gùi lúa đền công cho thầy rồi đàn trâu 4 con, gồm cả con trâu mẹ to nhất làng, lại thêm 4 con bò, một chục con heo lần lượt “ra đi”, vậy mà xem ra con gõ kiến mổ trong ngực vợ MRao lại nhiều hơn. MRao muốn khóc khi nghe thầy bảo: “Con ma này không chịu ăn trâu bò, không chịu uống rượu, vậy là nó chỉ muốn vợ mày đi theo rồi”.

Nếu không có Đại tá Nguyễn Thanh Xuân-Giám đốc Công ty 75 thì chắc vợ MRao đã về làng ma lúc đó. Chuyện là lúc ấy cán bộ công ty vận động bà con trồng cao su. Đang buồn như cây lúa chờ mưa, vậy mà nghe nói trồng cao su bụng MRao bỗng nhốt lên như có ai bỏ cục lửa. Trồng cao su mất hết đất ông bà, mai mốt biết lấy chỗ nào cho con bò đi chơi? MRao bí mật nói với dân làng nằm lăn ra cản, không cho bộ đội khai hoang. Làng Poong phải một trận ầm ĩ như cháy nhà. Đại tá Nguyễn Thanh Xuân phải đích thân xuống vận động… Hôm đó tình cờ ghé vào nhà, nghe MRao buồn rầu kể đầu đuôi, ông lập tức cho bác sĩ xuống khám bệnh. Bác sĩ bảo vợ MRao bị bệnh phổi rồi đưa về trạm xá Công ty điều trị. Được 3 tháng thì hết bệnh, khỏe ra như có phép Yàng cho!

Nói cho thật thì lúc ấy MRao chưa tin cây cao su lắm. Chịu đi làm công nhân cũng như là cách trả ơn người đã cứu vợ mình. Nhưng rồi dần dần MRao nhận ra rằng của cải tích cóp mười mấy năm làm rẫy so với mấy năm MRao làm cao su đâu có hơn gì. Ấy là MRao được tiếng giàu nhất làng đấy! Càng nghĩ MRao càng thấy xấu hổ với việc mình làm. Được Công ty giao vận động dân làng vào công nhân, MRao gặp nhiều cái khó lắm. Người càng nghèo càng khó nhưng MRao biết mình đã đi đúng đường thì dân làng sẽ chịu theo. Có một dạo làng Poong xôn xao chuyện nhà MRao sắm két đựng tiền. Chẳng phải tin đồn mà có thật. Sau hơn chục năm dốc sức làm ăn, bây giờ MRao đã có 20 ha cao su, 10 ha điều, 3 ha cà phê, một cửa hàng tạp hóa. Tài sản của MRao, người ta ước tính phải trên chục tỷ đồng, ấy là chưa kể ngôi nhà xây gần 2 tỷ bạc, cái ô tô cũng tiền tỷ và 3 cái nhà MRao đã xây cho con, rồi máy cày, trâu bò… Nhưng nếu chỉ mỗi mình MRao giàu lên thì cũng chẳng ý nghĩa mấy. MRao vẫn thầm tự hào trong sự đổi thay của dân làng có phần đóng góp của mình.

 

 

Làng Poong bây giờ đã đổi thay tới mức khiến người ta phải ngỡ ngàng. Cả 135 hộ đều có nhà xây. Nhiều nhà xây kiểu Thái to rộng. Mức thu nhập từ trăm triệu đồng/năm trở lên đã có hơn 10 nhà. Chẳng có phép lạ nào, tất cả đều từ cây cao su. Làng được Công ty giao 460 ha, mỗi lao động đều được đảm bảo từ một suất cạo trở lên. Ngoài ra, Công ty còn khuyến khích, giúp đỡ bà con trồng điều, cà phê để tăng thêm thu nhập. Làng Poong trở thành một ngôi làng kiểu mẫu. Không có chuyện trộm cắp, không nghe lời kẻ xấu. Ai cũng hiểu làm những việc đó là tự chặt tay mình.

Không chỉ trở thành người giàu có nhất vùng, thậm chí còn được “phong” là “người Jrai giàu nhất”, MRao còn là Đội phó đội sản xuất mang quân hàm sĩ quan chuyên nghiệp. Mỗi khi rảnh rỗi ngồi ngẫm chuyện mình, chuyện làng, MRao cứ cảm giác như vừa qua một giấc mơ-một giấc mơ có thật giữa ban ngày…

 Ngọc Tấn

Có thể bạn quan tâm

Làng xưa nay đã đổi thay

Làng xưa nay đã đổi thay

(GLO)- Sau khi về định cư ở vùng đất mới, cuộc sống của người dân 4 làng Plei Pông, Kinh Pêng, Plei Trớ và Plei Hek thuộc xã Chư A Thai (là các làng căn cứ cách mạng trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, còn gọi là 4 làng Ðồn) đã có nhiều đổi thay rõ nét.

Mang con dấu đến bản

Mang con dấu đến bản

Hai đứa con đã 15 và 13 tuổi, nhưng lần đầu tiên, vợ chồng anh Moong Văn Phong mới đi làm khai sinh cho con khi Trung tâm Phục vụ hành chính công xã Nhôn Mai (Nghệ An) mang con dấu đến tận bản để làm thủ tục cho dân.

Những dáng lính vùng biên

Những dáng lính vùng biên

(GLO)- Tôi gặp những người lính trên những chuyến tàu tuần tra ngoài khơi xa, giữa những hải trình dọc dài duyên hải đồng hành, làm chỗ dựa bảo vệ ngư dân và giữ gìn an ninh trật tự trên biển quê hương; gặp họ giữa những vùng biên giới Campuchia heo hút đầy nắng gió.

Ruổi rong đời chăn vịt

Ruổi rong đời chăn vịt

(GLO)- Sau mỗi mùa gặt, những cánh đồng lúa ở các xã An Lương, An Hòa, An Vinh, Tuy Phước… lại rộn ràng bởi đàn vịt hàng nghìn con tìm về kiếm ăn. Gắn với đàn vịt, những người chăn vịt miệt mài rong ruổi qua nhiều cánh đồng, lấy mùa gặt làm nhịp mưu sinh.

Trầm tích sông Ba

Trầm tích sông Ba

(GLO)- Sông Ba đoạn qua xã Ia Dreh (tỉnh Gia Lai) mùa khô, vài con thuyền đánh cá nằm gối đầu nghỉ ngơi trên những doi cát. Chiều xuống, từ những bến sông, người dân vẫn ra tắm mát dù nước cạn tới mức có thể lội ra giữa dòng.

Cạm bẫy ma tuý mới "pod chill" - Bài 2: Từ thuốc gây mê y khoa đến bẫy ma túy núp bóng pod chill

Cạm bẫy ma tuý mới "pod chill" - Bài 2: Từ thuốc gây mê y khoa đến bẫy ma túy núp bóng pod chill

Cầm trên tay chiếc “pod chill” nhỏ gọn, tỏa ra mùi hương trái cây ngọt ngào, nhiều bạn trẻ hồn nhiên nghĩ rằng mình chỉ đang dùng một sản phẩm giải trí thời thượng. Nhưng đằng sau làn khói thơm ấy lại là Etomidate - một hoạt chất gây mê y học bị giới tội phạm “biến tướng” thành ma túy nguy hiểm.

Những dấu vết bí ẩn ven sông Ba

Những dấu vết bí ẩn ven sông Ba

(GLO)- Men theo bờ sông Ba đoạn chảy qua buôn Tơnia (xã Ia Rsai, tỉnh Gia Lai), khi nắng cuối ngày hắt những tia vàng lấp lánh trên mặt nước, chúng tôi bắt gặp những vật thể lạ nhô lên khỏi lớp đất sét. 

Miếu thờ liệt sĩ bên suối Hội Phú

Miếu thờ liệt sĩ bên suối Hội Phú

(GLO)- Không biết tên tuổi, quê quán những người lính hy sinh trong trận đánh Tết Mậu Thân 1968 tại Pleiku, người dân bên suối Hội Phú (phường Hội Phú, tỉnh Gia Lai) vẫn âm thầm thắp những nén nhang rồi lập miếu thờ ngay nơi các anh từng nằm xuống. 

Vị Xuyên - Bạn tôi vẫn còn đó

Vị Xuyên - Bạn tôi vẫn còn đó

(GLO)- Vùng biên giới Vị Xuyên, tỉnh Tuyên Quang (Hà Giang cũ) hôm nay đã đổi thay, nhưng những người đồng đội của tôi vẫn còn đó, nằm ngay ngắn trong đội hình “hàng thẳng hàng, lối thẳng lối, quân dung tươi tỉnh” tại Nghĩa trang Liệt sĩ Quốc gia Vị Xuyên.

Ký ức không phai của nữ Anh hùng Kpă Ó

Ký ức không phai của nữ Anh hùng Kpă Ó

(GLO)- Chiến tranh đã lùi xa hơn nửa thế kỷ nhưng trong ngôi nhà nhỏ ở làng Bạc 1 (xã Chư Prông, tỉnh Gia Lai), ký ức về một thời hoa lửa vẫn vẹn nguyên qua từng câu chuyện của bà Kpă Ó - nữ Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân duy nhất ở khu vực phía Tây tỉnh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ.

Chiếc a chói giữa rừng Trường Sơn

Chiếc a chói giữa rừng Trường Sơn

Dưới mái hiên nhà sàn ở xã La Lay (Quảng Trị), tiếng dao chẻ tre vang lên đều đặn giữa buổi sớm. Nghệ nhân Hồ Văn Thành ngồi bên bó mây vừa lấy từ rừng về. Ông tỉ mẩn đường dao chuốt từng sợi nan tre. Ở miền tây Quảng Trị, hình ảnh ấy không hiếm gặp...

Nghị lực phi thường của người thương binh hạng nặng Lê Thái Hà

Nghị lực phi thường của người thương binh hạng nặng Lê Thái Hà

(GLO)- Khi bị thương nặng tại chiến trường Campuchia, ông Lê Thái Hà (trú phường Bình Định, tỉnh Gia Lai) không nghĩ mình sẽ sống sót. Phục viên với sức khỏe suy giảm đến 91%, ông cũng từng không dám mơ đến những điều xa xôi về tương lai. Vậy mà người cựu chiến binh ấy đã can trường vượt qua tất cả.

4 ngày làm vợ, 54 năm đợi chờ

4 ngày làm vợ, 54 năm đợi chờ

Sau 54 năm kể từ ngày liệt sĩ Nguyễn Văn Đinh ngã xuống trên chiến trường Quảng Trị, bà Nguyễn Thị Ngọ (Nghệ An) mới được đứng trên mảnh đất ông hy sinh. Hành trình ấy khép lại nỗi khắc khoải của một người vợ, nhưng mở ra câu chuyện lay động về tình yêu, sự thủy chung không phai theo năm tháng.

'Bí kíp' nón ngựa nghĩa quân Tây Sơn

'Bí kíp' nón ngựa nghĩa quân Tây Sơn

Nghệ nhân ưu tú Đỗ Văn Lan (80 tuổi, ông Ba Lan) đang giữ nguyên vẹn “bí kíp” tổ truyền làm “nón ngựa Phú Gia” mà ngày xưa nghĩa quân Tây Sơn đội nắng mưa hành quân thần tốc. Những chiếc nón không chỉ như một tác phẩm nghệ thuật mà còn rất bền.

null