Kỳ 1: Đất lành tụ nghĩa

Theo dõi Báo Gia Lai trên Google News
(GLO)- 250 năm đã trôi qua nhưng âm hưởng hào hùng của Cuộc khởi nghĩa nông dân Tây Sơn vẫn còn vang vọng. Hình ảnh những vị anh hùng “áo vải cờ đào” đã trở thành biểu tượng bất khuất trong lòng bao người con đất Việt nói chung và vùng căn cứ địa An Khê xưa nói riêng. Để rồi những năm qua, bằng nhiều cách, các cấp chính quyền cùng Nhân dân nơi đây vẫn nỗ lực từng ngày gìn giữ cho hào khí ấy luôn trường tồn, sáng mãi.
Vùng đất An Khê xưa (bao gồm thị xã An Khê và 3 huyện Đak Pơ, Kbang, Kông Chro ngày nay) được xem là “địa lợi” của 3 anh em nhà Tây Sơn trong buổi đầu chiêu binh tụ nghĩa. Từ căn cứ này, họ đã tích trữ quân lương, hiệu triệu Nhân dân phất cờ khởi nghĩa, thần tốc lập nên những chiến công hiển hách, lưu danh trong sử vàng dân tộc.
Di tích An Khê Trường-trung tâm đồn lũy ban đầu của 3 anh em Nhà Tây Sơn trong buổi đầu khởi nghiệp. Ảnh: Hồng Thi
Di tích An Khê trường-trung tâm đồn lũy ban đầu của 3 anh em nhà Tây Sơn trong buổi đầu chiêu binh tụ nghĩa. Ảnh: Hồng Thi
Lập căn cứ nơi hiểm địa
Chúng tôi trở lại vùng đất Tây Sơn Thượng đạo vào những ngày cuối tháng Chạp hanh hao gió. Trải qua hàng trăm năm, trong tâm thức người dân nơi đây vẫn còn lưu giữ nhiều câu chuyện về Tây Sơn tam kiệt gắn liền với cuộc khởi nghĩa quật cường năm xưa.
Ông Nguyễn Quốc Thành (phường Tây Sơn, thị xã An Khê) năm nay gần 90 tuổi. Vì đem lòng mến mộ “3 ngài Tây Sơn” mà từ giữa những năm 60 của thế kỷ trước, ông bắt đầu tìm tòi trong các thư viện cũng như điền dã khắp vùng An Khê để sưu tầm, nghiên cứu tư liệu liên quan.
Đề cập đến việc lựa chọn Tây Sơn Thượng đạo làm căn cứ dựng cờ tụ nghĩa, ông Thành nhận định: “Tây Sơn tam kiệt mà tiên phong là Nguyễn Nhạc đã rất sáng suốt khi chọn An Khê làm căn cứ địa. Vì lẽ, vùng đất này như một thung lũng lòng chảo được bao bọc, bảo vệ bởi núi cao, rừng rậm, lại có hệ thống sông ngòi thuận lợi và nhiều con đường mòn hiểm yếu. Vị trí chiến lược này đã giúp nghĩa quân Tây Sơn có thể bí mật chuẩn bị mọi mặt, dễ dàng vượt đèo Mang (tức đèo An Khê) tiến đánh xuống Tây Sơn Hạ đạo và khi cần thiết có thể rút lên căn cứ, dựa vào địa hình rừng núi để chiến đấu và bảo toàn lực lượng”.
Cũng theo ông Thành, Tây Sơn Thượng đạo không chỉ là nơi có vị trí chiến lược cơ động mà còn có đất đai màu mỡ, sản vật phong phú, khí hậu ôn hòa, thuận lợi cho phát triển trồng trọt và chăn nuôi, đảm bảo được quân lương. Thêm vào đó, nơi đây còn có nhiều voi lớn, ngựa hay, mỏ sắt, diêm tiêu... sẵn sàng cung cấp phương tiện cần thiết cho cuộc chiến lâu dài. Tất cả những điều kiện ấy đều đã được anh em nhà Tây Sơn tận dụng triệt để cho việc xây dựng căn cứ trong những ngày đầu khởi nghĩa.
Ông Nguyễn Quốc Thành (bìa phải; phường Tây Sơn, thị xã An Khê) nhắc nhớ về quá trình điền dã tìm hiểu việc chuẩn bị khởi nghĩa của anh em nhà Tây Sơn trên đất An Khê xưa. Ảnh: Hồng Thi
Ông Nguyễn Quốc Thành (bìa trái; phường Tây Sơn, thị xã An Khê) nhắc nhớ về quá trình điền dã tìm hiểu việc chuẩn bị khởi nghĩa của anh em nhà Tây Sơn trên đất An Khê xưa. Ảnh: Hồng Thi
Đồng quan điểm, TS. Nguyễn Thị Kim Vân phân tích: Trong giai đoạn dấy binh, chuẩn bị lực lượng của nghĩa quân Tây Sơn, vai trò của người anh cả Nguyễn Nhạc được thể hiện rõ nét nhất. Ông là người có kinh nghiệm giao thương với người Thượng bằng nghề buôn trầu. Lúc bấy giờ, vùng đồng bào Bahnar ở An Khê trồng rất nhiều cau, trầu và Nguyễn Nhạc thường xuyên lui tới để mua đem về bán cho cư dân đồng bằng. Vì thế, nơi này từ lâu đã là vùng đất quen thuộc của anh em Tây Sơn cả về địa bàn lẫn dân cư.
Thêm vào đó, sở dĩ Nguyễn Nhạc lựa chọn Tây Sơn Thượng đạo làm căn cứ khởi nghĩa vì địa hình ở đây còn có nhiều “ưu thế vượt trội”, hội tụ đủ yếu tố đảm bảo cho việc phòng ngự, tiến thoái và nuôi quân như: núi rừng bao quanh, nhiều hòn núi cao có thể quan sát toàn bộ khu vực đồng bằng bên dưới; hệ thống sông ngòi ăn sâu vào vùng núi với sông Côn theo hướng Đông-Tây và sông Ba theo hướng Bắc-Nam, cùng nhiều nhánh rẽ của chúng nối liền với các vùng đất lân cận. Điều kiện đất đai, khí hậu cũng thuận lợi cho việc sản xuất lương thực phục vụ nghĩa quân. Mặt khác, Tây Sơn Thượng đạo còn có mối liên hệ chặt chẽ với quê hương Tây Sơn Hạ đạo để bổ sung lực lượng khi khởi binh. Chính sự chọn lựa đúng đắn của 3 anh em đã đặt nền móng quan trọng cho những thắng lợi của phong trào Tây Sơn và nhà Tây Sơn sau này.
Trong một lần trao đổi với chúng tôi vào năm 2017, cố GS. Phan Huy Lê cũng khẳng định rằng, Tây Sơn Thượng đạo không chỉ là căn cứ buổi đầu của cuộc khởi nghĩa nông dân Tây Sơn mà nó còn có vị trí chiến lược cực kỳ quan trọng trong suốt quá trình phát triển và thắng lợi của nhà Tây Sơn. Bởi lẽ, năm 1775, khi quân Trịnh ở phía Bắc đánh vào, quân Nguyễn phía trong tấn công ra, nhà Tây Sơn bị kẹt ở giữa Quy Nhơn và Quảng Ngãi. Trước tình thế đó, Nguyễn Nhạc phải hoàn toàn dựa vào Tây Sơn Thượng đạo. Thậm chí, ông còn cho người mang của cải đến cất giấu để chuẩn bị nếu tình thế cấp bách quá sẽ tạm di cư lên đây. Thế nhưng cuối cùng, bằng chiến thuật lợi hại là tạm hòa với quân Trịnh để tập trung đánh Nguyễn nên nhà Tây Sơn đã vượt qua được khó khăn, tiếp tục giữ vững thế trận.
Chiến thắng của tình đoàn kết Kinh-Thượng
Với vị trí, điều kiện tự nhiên thuận lợi, Tây Sơn Thượng đạo được xem như “cái nôi” che chở cho nghĩa quân Tây Sơn trong những ngày đầu “trứng nước”. Tuy nhiên, nhiều nhà nghiên cứu còn cho rằng, yếu tố quan trọng có tính chất quyết định tới thành công của cuộc khởi nghĩa chính là sự giúp đỡ của Nhân dân, đặc biệt là đồng bào miền Thượng.
Theo cố GS. Phan Huy Lê, Nguyễn Nhạc đã xây dựng được căn cứ trong dân rất vững chắc; tạo được mối quan hệ khăng khít với tất cả các dân tộc ở đây. Nhằm thắt chặt tình đoàn kết gắn bó Kinh-Thượng, Nguyễn Nhạc còn lấy vợ là Yă Đố (còn gọi là Cô Hầu) là con gái một tộc trưởng người Bahnar. Nhờ sự giúp đỡ của Yă Đố, anh em Tây Sơn đi đến đâu cũng được người dân vùng Thượng đạo quy thuận và tham gia lực lượng nghĩa quân.
Yă Đố cùng với dân làng tìm đất khai hoang, lập ra một cánh đồng rộng để trồng lúa và cây lương thực, cây ăn quả. Nơi sản xuất ấy vẫn còn dấu tích cho đến ngày nay với di tích Vườn Mít, Cánh đồng Cô Hầu ở xã Nghĩa An, huyện Kbang. Ngoài ra, vì một lòng tin vào bok Nhạc nên bà con nơi đây đã cung cấp, ủng hộ rất nhiều voi cũng như người chỉ huy voi cho đội tượng binh của Tây Sơn-đội quân vô cùng lợi hại trong việc đại phá quân Thanh vào năm 1789.
Ông Nguyễn Quốc Thành cũng bày tỏ sự khâm phục với thế trận lòng dân mà anh em Nguyễn Nhạc đã tạo dựng được trên vùng Tây Sơn Thượng đạo. “Nguyễn Nhạc đặt cơ sở trong lòng đồng bào địa phương bằng những việc làm sát với tín ngưỡng và phong tục, tập quán của họ. Chỉ trong thời gian ngắn, hầu hết các bộ tộc gần xa đều đứng dưới ngọn cờ đào của Tây Sơn tam kiệt. Người Thượng cung cấp các quản tượng tài ba, gan dạ để thành lập đội tượng binh và tập voi kéo pháo; kết hợp với đoàn kỵ mã trên 2.000 quân cũng đa phần đều là người miền núi. Nhiều anh hùng hào kiệt, địa chủ, thương gia, trai tráng bốn phương cũng hồ hởi tụ về”-ông Thành nói.
Cũng theo ông Thành, Tây Sơn Thượng đạo không chỉ là nơi có vị trí chiến lược cơ động mà còn có đất đai màu mỡ, sản vật phong phú, khí hậu ôn hòa, thuận lợi cho phát triển trồng trọt và chăn nuôi, đảm bảo được quân lương. Thêm vào đó, nơi đây còn có nhiều voi lớn, ngựa hay, mỏ sắt, diêm tiêu... sẵn sàng cung cấp phương tiện cần thiết cho cuộc chiến lâu dài. Tất cả những điều kiện ấy đều đã được anh em nhà Tây Sơn tận dụng triệt để cho việc xây dựng căn cứ trong những ngày đầu khởi nghĩa.
Người Bahnar ở xã Nghĩa An (huyện Kbang) vẫn trồng bắp, lúa nước tại vị trí Cánh đồng Cô Hầu ngày xưa. Ảnh: Nhất Hạnh
Liên quan đến mối đoàn kết Kinh-Thượng, TS. Nguyễn Thị Kim Vân thông tin thêm: “Thật ra, mối quan hệ Kinh-Thượng ở nước ta vốn đã được xác lập vào năm 1471, tức từ thời của Vua Lê Thánh Tông. Tuy nhiên, mãi đến cuối thế kỷ XVII, khi anh em nhà Tây Sơn lập căn cứ địa ở Tây Sơn Thượng đạo thì mối quan hệ ấy mới được đẩy lên một bước cao hơn, có sự gắn kết son sắt hơn. Chỉ trong vòng 3 năm (1771-1773), anh em nhà Tây Sơn đã quy tụ được một đội chỉ huy tài ba, có căn cứ vững chắc, lương thảo đầy đủ, quân sĩ dũng mãnh, hùng hậu. Những chiến binh của họ không chỉ có người Kinh mà còn có đông đảo người dân tộc thiểu số. Chính nơi tụ nghĩa ban đầu này đã giúp anh em Tây Sơn liên tiếp giành được những chiến thắng vang dội”.
Quả vậy, từ năm 1773 đến 1787, dưới sự lãnh đạo tài tình của Quang Trung-Nguyễn Huệ, nghĩa quân Tây Sơn đã giải phóng một vùng rộng lớn ở đồng bằng; 5 lần tiến vào Gia Định đánh đổ chế độ chúa Nguyễn ở Đàng Trong, rồi quay ra lật nhào chúa Trịnh ở Đàng Ngoài. Trong vòng 15 năm, phong trào Tây Sơn đã lật nhào 2 triều đại phong kiến, đánh tan 5 vạn quân Xiêm lập nên chiến công Rạch Gầm-Xoài Mút vang dội núi sông năm 1785.
Đỉnh cao của cuộc khởi nghĩa là chiến thắng Ngọc Hồi-Đống Đa lịch sử vào sáng mùng 5 tháng Giêng năm Kỷ Dậu (1789) quét sạch hơn 29 vạn quân Mãn Thanh xâm lược. Với nghệ thuật hành quân thần tốc, lối đánh bất ngờ, nghĩa quân đã thống nhất sơn hà, lập lên triều đại Tây Sơn phát triển rực rỡ trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc.
Dù chỉ tồn tại trong thời gian ngắn nhưng triều đại Tây Sơn đã để lại dấu ấn sâu sắc trong lòng dân tộc, đặc biệt trên vùng đất Tây Sơn Thượng đạo. Trải qua hàng trăm năm, mặc cho sự trả thù của nhà Nguyễn và chiến tranh tàn phá, nhiều di tích, di vật liên quan đến nhà Tây Sơn vẫn được nhân dân nơi đây trọng vọng, giữ gìn cho đến tận ngày nay.
HỒNG THI

Có thể bạn quan tâm

Mùa săn kiến vàng

Mùa săn kiến vàng ở cao nguyên Gia Lai

(GLO)- Khi mùa khô phủ nắng lên những cánh rừng phía Tây Gia Lai, người Jrai bước vào mùa săn kiến vàng. Hành trình tìm kiếm những tổ kiến tuy nhọc nhằn nhưng cũng thú vị, thể hiện sự gắn bó giữa đồng bào dân tộc thiểu số với thiên nhiên từ xưa đến nay.

Ngày mới bên sông Pô Cô

E-magazine Ngày mới bên sông Pô Cô

(GLO)- Sớm mai ở Ia Krái, dòng Pô Cô uốn lượn như dải lụa bạc giữa mênh mông cây cối. Nước sông lăn tăn, gợn sóng nhỏ vỗ vào bãi cát vàng, len qua vườn rẫy, tạo thành một bản hòa ca của thiên nhiên và con người.

Giữ cây thuốc quý giữa đại ngàn An Toàn

Giữ cây thuốc quý giữa đại ngàn An Toàn

(GLO)- Tự xa xưa người Bahnar ở đại ngàn An Toàn (tỉnh Gia Lai) đã biết sử dụng nhiều loài cây rừng để làm thuốc chữa bệnh. Kinh nghiệm được chắt lọc qua nhiều thế hệ, không chỉ chăm sóc sức khỏe cộng đồng mà còn thể hiện sự am hiểu sâu sắc về tự nhiên, góp phần gìn giữ giá trị y học dân gian.

Xây dựng thế trận lòng dân nơi tà đạo "Hà Mòn" đi qua - Kỳ cuối: Xây dựng thế trận lòng dân- tường lửa ngăn tà đạo

E-magazine Xây dựng thế trận lòng dân nơi tà đạo "Hà Mòn" đi qua - Kỳ cuối: Xây dựng thế trận lòng dân- tường lửa ngăn tà đạo

(GLO)- Ba đối tượng cốt cán cuối cùng của tà đạo “Hà Mòn” bị bắt giữ tại khu vực núi Jơ Mông (giáp ranh xã Hra và xã Lơ Pang) vào ngày 19-3-2020 đã đánh dấu bước ngoặt quan trọng, khép lại hành trình đấu tranh kéo dài hơn một thập kỷ.

'Sói biển' Lý Sơn và hành trình nối biển ra Hoàng Sa

'Sói biển' Lý Sơn và hành trình nối biển ra Hoàng Sa

Ở đặc khu Lý Sơn (Quảng Ngãi), lão ngư Dương Minh Thạnh được nhiều ngư dân gọi là “lão ngư Hoàng Sa” bởi có công “nối biển” Lý Sơn ra quần đảo Hoàng Sa. Ông còn được mệnh danh là “sói biển” Lý Sơn, bởi sức vươn khơi dẻo dai, từng 5 lần thoát chết thần kỳ giữa bão biển.

Thúng chai lên phố

Thúng chai lên phố

Nghề đan thuyền thúng bằng tre (thúng chai) dùng để đi biển đánh bắt hải sản sau hàng trăm năm giờ đang dần mai một. Những ngư dân miền Trung vẫn âm thầm bám nghề bằng tình yêu mưa nắng đời người, và ngày càng nhiều những chiếc thúng chai rời biển về phố làm du lịch.

Những chuyện tình xuyên biên giới ở Ia O

Những chuyện tình xuyên biên giới ở Ia O

(GLO)- Trên vùng biên Ia O (tỉnh Gia Lai), dòng Pô Cô vừa là ranh giới tự nhiên, vừa là nhịp cầu kết nối lương duyên. Từ những lần qua lại thăm thân, dự lễ hội, nhiều mối tình nảy nở, hình thành nên những mái ấm xuyên biên giới bình dị, bền bỉ, góp phần dệt nên diện mạo riêng nơi phên giậu Tổ quốc.

Làng bồng bềnh trên dòng Pô Kô

Làng bồng bềnh trên dòng Pô Kô

Giữa miền biên viễn phía tây Gia Lai, trên dòng Pô Kô hùng vĩ, hàng chục gia đình từ Tây Nam bộ tìm đến lập nghiệp, dựng nên những căn nhà nổi chông chênh giữa sóng nước. Cuộc mưu sinh lặng lẽ thể hiện nghị lực của con người, ý chí bám trụ và khát vọng sống chan hòa cùng sông nước.

Bấp bênh xóm chài vùng biên

Bấp bênh xóm chài vùng biên

(GLO)- Xóm chài trên mặt hồ thủy điện Sê San (làng Tăng, xã Ia O) hiện có 17 hộ với 58 nhân khẩu, đến từ các tỉnh ở miền Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ. Không đất ở, thiếu giấy tờ tùy thân, họ tự dựng nhà bè, bám lấy con nước để mưu sinh.

Đêm đập trống dưới ánh trăng rừng

Đêm đập trống dưới ánh trăng rừng

Giữa vùng lõi của Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng, nơi núi đá vôi dựng đứng như những bức tường thành và rừng già nối tiếp đến tận biên Việt - Lào, có một lễ hội mà mỗi nhịp trống vang lên dường như làm nghiêng ngả cả đại ngàn: Lễ hội Đập trống của người Ma Coong.

'Rừng thiêng' giữa đại ngàn

'Rừng thiêng' giữa đại ngàn

Giữa đại ngàn Trường Sơn hùng vĩ, nơi mây trắng quấn quýt những đỉnh núi của vùng cao Đà Nẵng, có một cánh rừng không chỉ xanh bởi lá, mà còn xanh bởi ký ức. Người dân gọi đó là 'rừng bác Năm Công'.

Cán bộ trại giam động viên, chia sẻ với phạm nhân.

Tình người sau cánh cổng trại giam

(GLO)- Từ những câu chuyện rất thật của người trong cuộc, có thể thấy tính nhân văn trong công tác giáo dục, cải tạo phạm nhân tại Trại tạm giam số 1, Công an tỉnh Gia Lai. Đó là nơi cán bộ, chiến sĩ đang kiên trì cảm hóa những người lầm lỗi bằng trách nhiệm và lòng nhân ái.

Vị linh mục hiến kế chống Pháp

Vị linh mục hiến kế chống Pháp

(GLO)- “Chuyện giặc Pháp xâm lăng ngang ngược, xin ra lịnh cho người có đạo giúp nước lập công, ai phản nghịch sẽ giết cả họ. Kẻ có đạo dù có thịt nát xương tan cũng cố báo đền ơn nước, quyết chẳng hai lòng”.

null