Giờ cứu nước - Kỳ 4: Những cô gái bất khuất

Theo dõi Báo Gia Lai trên Google News

“Tôi cầm bức thư kêu gọi toàn quốc kháng chiến do chính tay Chủ tịch Hồ Chí Minh viết mà rưng rưng xúc động. Vậy là chiến tranh rồi, những người thân của tôi, những bạn bè mới ngày qua còn mặc áo dài, mang guốc đến trường giờ đã ở trước mũi súng quân thù”.

Bà Nguyễn Thị Bích Thuận hiện nay
Bà Nguyễn Thị Bích Thuận hiện nay


Đại tá Nguyễn Thị Bích Thuận, nguyên Cục phó Cục Cảnh vệ, vẫn không thể quên được trận chiến mùa đông năm 1946. Đó là những ngày đầu các kiều nữ Hà thành dấn thân vào cuộc chiến xương máu...

Người mã hóa mật thư

Hồi tưởng chuyện 70 năm trước, bà Nguyễn Thị Bích Thuận kể: “Cuối tháng 11, tôi đang là nữ điện thoại viên Bưu điện Bờ Hồ thì nhận mật lệnh đặc biệt. Chính ông Lê Quang Đạo đưa tôi về nhà riêng lấy nhanh vài món đồ sinh hoạt phụ nữ, rồi chở lên thẳng Văn phòng Xứ ủy Bắc Kỳ.

Đến nơi tôi thấy ông Trần Quốc Hoàn đã đợi sẵn, giọng nghiêm trang: “Cô được giao nhiệm vụ mới, rất quan trọng, cố gắng hoàn thành cho tốt”.

Đó là một đêm cuối tháng 11-1946. Trước khi bước vào cuộc chiến vệ quốc, bà Thuận là nữ sinh Trường Đồng Khánh. Năm 1944, tham gia phong trào phụ nữ cứu quốc thành Hoàng Diệu, chính bà đã lấy khăn đỏ trên bàn thờ nhà để may cờ đỏ sao vàng.

Về làm việc tại văn phòng ông Trần Quốc Hoàn, bà cảm nhận không khí chiến tranh không thể tránh khỏi. Ngoài đường quân Pháp liên tục đàn áp, trong văn phòng Xứ ủy luôn diễn ra nhiều cuộc họp căng thẳng với các lãnh đạo cấp cao. Tất cả sẵn sàng cho cuộc chiến vệ quốc.

“Tôi nhớ đó là đêm 19-12-1946. Trong lúc tiếng đạn rền Hà Nội, ông Trần Quốc Hoàn đưa cho tôi một bức thư viết tay, không có phong bì, ông nói: “Cô mã hóa ngay bức điện này gửi đến cho các chiến sĩ ở mặt trận Liên khu I, Hà Nội”.

Ngồi trước máy, đọc lướt qua lá thư, bà Thuận run lên vì xúc động: đó là lời hiệu triệu toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Phải cố kiềm chế xúc động, bà mã hóa lá thư. Mã hóa xong lại mở kiểm tra lần nữa rồi mới gửi đi.

Hôm sau bà lại nhận được bức mật điện từ mặt trận Hà Nội. Đích thân ông Trần Quốc Hoàn lại giao tận tay cho bà và yêu cầu mở mã dịch thư ngay. Đó là thư của Chính ủy mặt trận Lê Trung Toản đại diện dân quân đang chiến đấu, xin hứa “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh”.

Về sau, bà còn tiếp tục nhận và gửi các mật thư đặc biệt khác. Trong đó có cả thư lãnh đạo căn dặn phải di tản đồng bào ra vùng an toàn để tiếp tục cuộc kháng chiến trường kỳ...

Trong lúc bà Thuận làm nhiệm vụ giải mã mật thư, rất nhiều bạn bè bà cũng đang ở chiến hào. Vừa trực tiếp chiến đấu, họ vừa đảm đương các nhiệm vụ quan trọng như cứu thương, cấp dưỡng, đào đắp công sự, tải đạn phục vụ binh lực kháng chiến. Nhiều nữ sinh đành cắt cả mái tóc dài, nhuộm quần áo trắng sang màu đen chiến trường.

Ngoài trận địa, các nữ sinh yêu kiều này còn sử dụng một “vũ khí” đặc biệt khác để hạ gục quân thù. Bằng tiếng Pháp ngọt mềm vọng qua bên kia chiến tuyến, họ cất lời hát về quê hương và tình yêu để kêu gọi binh sĩ đối phương hạ súng...

Máu hồng loang trận địa

Trên chiến địa, nhiều cô gái trong đội quân đặc biệt này cũng dũng cảm hi sinh. Đến giờ, các cựu chiến binh trong cuộc chiến Hà Nội 60 ngày đêm vẫn còn nhớ câu chuyện hi sinh của hai cô gái Trần Thị Tam và Huỳnh Thị Huyền.

Họ là nữ sinh Trường Hàm Long, khi chiến sự nổ ra đã được lệnh sơ tán nhưng tình nguyện ở lại phục vụ chiến đấu. Cả hai cô đều mồ côi mẹ, nên chơi rất thân với nhau. Trong đó, Tam có anh trai Trần Hậu Tịnh cũng vào Vệ quốc đoàn ngay từ ngày đầu và đã hy sinh.

 

Các cô gái trong đội cứu quốc thành Hoàng Diệu - Ảnh tư liệu Q.V. chụp lại Các cô gái trong đội cứu quốc thành Hoàng Diệu - Ảnh tư liệu Q.V. chụp lại
Các cô gái trong đội cứu quốc thành Hoàng Diệu - Ảnh tư liệu Q.V. chụp lại

Nhiều lần xin ra chiến tuyến, hai cô đều bị từ chối bởi dáng nữ sinh “ẻo lả” và chưa đủ tuổi. Sau họ được nhận vào phòng tuyến chợ Hôm. Chiến sự khu vực này rất ác liệt, nhiều chiến sĩ đã thương vong.

Trước khi vào trận đánh, Tam và Huyền xin người bạn của anh trai mình cũng đang chiến đấu ở khu vực này mỗi người một trái lựu đạn.

Ban đầu người lính định không cho, nhưng nghe hai cô gái phụng phịu nói cần lựu đạn để tự vệ nếu đụng độ với lính Pháp thì anh rút cho mỗi người một quả. Hết đêm qua ngày, phòng tuyến chợ Hôm bị quân lê dương tấn công dồn dập.

Trung đội Việt Tử trấn giữ ở đây dũng cảm đánh bật được kẻ thù nhưng cũng bị thương vong rất nhiều. Hai nữ sinh Trường Hàm Long làm cứu thương hầu như không lúc nào được nghỉ.

Có trận, chiến sĩ xung phong phản công và bị thương nằm dưới làn đạn súng máy bắn xối xả của đối phương. Anh không bò về được mà đồng đội anh cũng không thể lên cõng về. Bất ngờ hai cô cứu thương nhỏ bé lao lên khiêng người thương binh trong làn đạn sáng rực cả đêm đen.

Trung đội trưởng Việt Tử hoảng hốt gọi đồng đội tập trung bắn yểm trợ cho họ. Sau lần ấy, Việt Tử rất quý mến hai nữ cứu thương đơn vị, mà trước đó họ đã định không nhận vì “trông yếu ớt quá”.

Hai ngày sau, lính dù mũ đỏ và tăng, thiết giáp quân lê dương quyết tâm triệt hạ bằng được phòng tuyến chợ Hôm. Đạn dược cạn kiệt dần, trung đội tự vệ chiến đấu rất kiên cường và lần lượt hi sinh gần hết.

Hai cô nữ sinh được lệnh rút lui, nhưng họ vẫn kiên quyết ở lại sống chết cùng chiến sĩ. Khi người lính cuối cùng bị thương gục xuống, không thể chiến đấu được nữa cũng là lúc lính dù Pháp tràn vào bắt sống hai cô gái bé nhỏ và định làm nhục họ.

Một chiến sĩ bị thương là nhân chứng của khoảnh khắc này trông thấy cả đám lính Pháp đè hai cô nữ sinh xuống định xé quần áo, thì bất ngờ Tam và Huyền đã cho nổ hai quả lựu đạn mới xin được hôm trước để cùng chết với kẻ thù!

Theo Tuoitre

Cựu chiến binh Nguyễn Văn Hồng, tiểu đoàn 212, kể lại một trận đánh không quên của ông trong những ngày khói lửa ấy với cái chết của hai cô cứu thương:

“Hai bên giằng co đến xế chiều thì địch thay đổi cách đánh. Chúng dùng hỏa lực súng cối giội vào trận địa. Biết không còn đủ khả năng chiến đấu, trung đội trưởng phái liên lạc về truyền lệnh và dẫn đường cho tổ nuôi quân rút trước.

Các tiểu đội thay nhau kìm chân địch, luân phiên vừa đánh vừa hướng về phía chùa Sét. Khi đến nơi thì ông Hồng không thấy bóng cô cứu thương Bùi Thị Giần và cô Toàn đâu.

Ông Hồng hớt hải ngược trở lại tìm thì thấy một đồng đội đang ngồi cúi mặt ôm chặt Giần đang nằm sóng soài trên tay, kế bên là cô Toàn cũng đang nằm dưới đất. Máu trên vết thương do đạn cối tứa ra khắp người họ.

Hai cô cứu thương người Hà thành đã hy sinh anh dũng trong cuộc chiến đấu không cân sức của dân tộc mình...

Có thể bạn quan tâm

Khắc khoải về làng gốm cổ Hương Canh

Khắc khoải về làng gốm cổ Hương Canh

Từng có gần 400 hộ làm nghề, gốm Hương Canh (xã Bình Nguyên, tỉnh Phú Thọ) nay chỉ còn 4 hộ bền bỉ giữ lửa cho nghề gốm cổ. Được tạo nên từ nguồn đất trầm tích đặc biệt của địa phương, dòng gốm sành không men đang đối mặt với những khó khăn về đầu ra và nguy cơ thiếu người kế nghiệp.

'Bóng ma đồ độc' ám ảnh vùng cao Quảng Ngãi

'Bóng ma đồ độc' ám ảnh vùng cao Quảng Ngãi

Ở một số bản làng miền núi Quảng Ngãi, hủ tục nghi kỵ “cầm đồ thuốc độc” vẫn âm ỉ tồn tại, len vào những mâu thuẫn đời thường, những cơn bệnh chưa được lý giải bằng khoa học. Từ một lời phán của thầy cúng, hàng xóm có thể thành kẻ thù, người vô tội bị cô lập, đánh đập, thậm chí mất mạng.

Trường mới ở vùng biên

Trường mới ở vùng biên

(GLO)- Gần một tháng sau lễ khai giảng năm học 2026 - 2027, thầy và trò tại 7 trường phổ thông nội trú Tiểu học và THCS trên tuyến biên giới của tỉnh Gia Lai đang từng bước ổn định nền nếp dạy học.

Món quà nhỏ nối dài lòng tốt

Món quà nhỏ nối dài lòng tốt

Mỗi lần nấu cơm cho gia đình, chị Trương Thị Phượng lại chuẩn bị thêm một, hai suất. Hôm nay, trong những chiếc hộp được xếp ngay ngắn là cơm trắng, khoai tây xào, gà xào và canh nóng. Chị chụp lại phần cơm, đăng lên nhóm “Cho tặng đồ miễn phí tại Hà Nội”, rồi chờ người cần đến nhận.

Phía sau đầu sóng Trường Sa

Phía sau đầu sóng Trường Sa

Bán đảo Cam Ranh nắng gió có một khu đô thị đặc biệt mang tên Khu đô thị Căn cứ quân sự Cam Ranh (Khánh Hòa). Sau những ô cửa bình yên nơi đây là mái ấm của các gia đình quân nhân, trong đó có những người vợ đang ngày ngày thay chồng chăm lo tổ ấm, khi các anh làm nhiệm vụ nơi đầu sóng Trường Sa.

Thầy tôi là nhà cách mạng làm thơ

Thầy tôi là nhà cách mạng làm thơ

Tôi gọi cha tôi bằng 'thầy' vì ông cụ muốn tôi nhớ lại gốc gác của mình từ một làng nào đó ở đất Nghệ An. Người Bắc hay gọi cha là thầy, mẹ là u. Bên nội tôi là người di dân, vào Quảng Ngãi từ mấy trăm năm trước.

Lưu giữ ký ức thời hoa lửa bằng công nghệ

Lưu giữ ký ức thời hoa lửa bằng công nghệ

(GLO)- Chiến tranh đã lùi xa hơn nửa thế kỷ. Những người trực tiếp đi qua những năm tháng khốc liệt ấy, nay đều đã ở tuổi xế chiều. Nhưng thời gian không chờ đợi ai. Khi những nhân chứng dần vắng bóng, cũng là lúc nhiều mảnh ghép ký ức về lịch sử dân tộc không còn cơ hội được kể lại.

Lộ Diêu vươn mình từ gian khó

Lộ Diêu vươn mình từ gian khó

(GLO)- Trước đây, Lộ Diêu (phường Hoài Nhơn Đông) như một thế giới tách biệt với bên ngoài. Ðặc trưng địa hình và cuộc sống của người dân nơi đây được đúc kết qua câu: “Lộ Diêu một biển ba đèo - Gian nan đã vượt, khó nghèo đã qua”.

null