43 năm cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc (17.2.1979 - 17.2.2022): Ký ức của người thân

Theo dõi Báo Gia Lai trên Google News
'Nhà chỉ có 2 anh em, bác Việt là cả rồi đến tôi. Hồi bác ấy mất, bà không tin là mất con, bao năm nay cứ ngồi đợi, ai đến cũng nghĩ là ở đơn vị bác về thăm. Ngày nào cũng đòi lấy hình thờ của bác Việt xuống ôm ngắm'…
Chúng tôi vừa bước vào nhà liệt sĩ Trần Công Việt (ở xã Quảng Phú Cầu, H.Ứng Hòa, TP.Hà Nội), bà mẹ Trần Thị Lũm năm nay 96 tuổi đang ngồi co ro trên phản vì lạnh, với tay kéo áo: “Con ở đơn vị về hả? Sao thằng Việt vẫn chưa về?”.
Mẹ chờ con suốt 43 năm
Ông Trần Công Viên (em trai liệt sĩ Việt) giải thích: “Nhà chỉ có 2 anh em, bác Việt là cả rồi đến tôi. Hồi bác ấy mất, bà không tin là mất con, bao năm nay cứ ngồi đợi, ai đến cũng nghĩ là ở đơn vị bác về thăm. Ngày nào cũng đòi lấy hình thờ của bác Việt xuống ôm ngắm”…
Sinh năm 1951, chưa đầy 18 tuổi, anh Việt xung phong nhập ngũ, chiến đấu 6 năm trong chiến trường miền Nam, và năm 1976 được cử đi học Trường Sĩ quan chính trị. Năm 1977, anh Việt lấy vợ và cuối năm có con gái Trần Thị Hồng. Đầu năm 1979, thiếu úy Trần Công Việt thực tập tại Trung đoàn 12, Sư đoàn 3 (Quân khu 1), chỉ huy bộ đội và trực tiếp chiến đấu bảo vệ thị trấn Đồng Đăng (Lạng Sơn). Sáng 17.2.1979, pháo binh Trung Quốc điên cuồng bắn phá trận địa phòng ngự của đơn vị thiếu úy Việt, xua bộ binh, xe tăng ào ạt xông lên. Hết đạn và bị tổn thất nặng, bộ đội ta đã đánh giáp lá cà và tất cả cùng hy sinh trưa 17.2.1979.
“Gia đình động viên mãi, gần chục năm sau vợ anh Việt mới đi bước nữa và làm giáo viên ở H.Lương Sơn, Hòa Bình. Cháu gái Trần Thị Hồng sau đó cũng đi học sư phạm và giờ là giáo viên THCS ở Lương Sơn”, ông Trần Công Viên nói và kể tiếp: “Ở xã có 1 chiến sĩ cùng chiến đấu với bác Việt và cùng hy sinh ngày 17.2.1979 nên mấy năm sau, cả hai gia đình chúng tôi cùng lên Cao Lộc (Lạng Sơn) đưa 2 anh em về quê”.

Xe tăng Trung Quốc bị bộ đội Quân khu 1 tiêu diệt tại TX.Cao Bằng, tháng 2.1979. Ảnh: Trần Mạnh Thường
Xe tăng Trung Quốc bị bộ đội Quân khu 1 tiêu diệt tại TX.Cao Bằng, tháng 2.1979. Ảnh: Trần Mạnh Thường
Giữ chiếc mũ cối của anh
Đến bây giờ, ông Bùi Văn Xuân (64 tuổi, em trai liệt sĩ Bùi Bá Việt) vẫn giữ chiếc mũ cối mà anh trai mình tặng, trước khi nhập học Trường Sĩ quan chính trị. Ngồi trong căn nhà nhỏ, núp sau xưởng sản xuất khẩu trang (ở xã Tân Lâm Hương, H.Thạch Hà, Hà Tĩnh), ông Xuân kể: Anh Bùi Bá Việt sinh ngày 19.5.1954, nhập ngũ ngày 20.4.1970 khi chưa tròn 16 tuổi. Do làm cán bộ Đoàn ở Trường cấp 3 nên anh Việt rất hăng hái, viết đơn tình nguyện bằng máu, khi đang học lớp 10. Vào bộ đội, anh Việt được học quân y và cùng Tiểu đoàn 48 (Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Hà Tĩnh) sang chiến đấu giúp nước bạn Lào ở địa bàn Cánh đồng chum (Xiêng Khoảng). Sau ngày thống nhất, anh Việt được cử đi học Trường Sĩ quan chính trị, và đầu năm 1979 lên thực tập tại Trung đoàn 246 (Sư đoàn 346, Quân khu 1).

Cụ Trần Thị Lũm ngắm di ảnh con trai Trần Công Việt. Ảnh: Mai Thanh Hải
Cụ Trần Thị Lũm ngắm di ảnh con trai Trần Công Việt. Ảnh: Mai Thanh Hải
Sáng sớm 17.2.1979, bộ binh và xe tăng Trung Quốc ào ạt tràn qua cửa khẩu Sóc Giang, tấn công vào đất ta hòng kéo về TX.Cao Bằng. Thiếu úy Bùi Bá Việt đã chỉ huy bộ đội phòng ngự trên cao điểm 505 (xã Sóc Hà, H.Hà Quảng, Cao Bằng), suốt 4 ngày đêm chặn đánh địch, ngăn bước tiến của chúng. Anh dũng chiến đấu, cả đơn vị thiếu úy Việt hy sinh trong buổi chiều 20.2.1979.
“Khoảng năm 2000, gia đình tôi đi khắp các nghĩa trang ở H.Hà Quảng tìm hài cốt anh Việt, nhưng không thấy. Đồng bào dân tộc ở Sóc Hà thấy vậy, dẫn lên tận điểm cao 505 và vẫn thấy mấy cái hầm sập từ hồi 1979”, ông Xuân kể và chùng giọng: “Cuối năm 1978, anh Việt cưới vợ, được 15 ngày thì phải ra trường và lên biên giới thực tập, rồi hy sinh. Cô vợ Tạ Kim Khánh và gia đình tôi vẫn mong tìm thấy mộ anh”.
Cả xã cùng đưa về
Chúng tôi về xã Hưng Tây, H.Hưng Nguyên (Nghệ An) tìm gặp gia đình liệt sĩ Phan Văn Cúc (sinh năm 1952, nhập ngũ 1970, hy sinh ngày 17.2.1979 khi đang là trung úy, học viên Trường Sĩ quan chính trị thực tập tại Sư đoàn 3, Quân khu 1).
Bà Phan Thị Lương, 70 tuổi, vợ liệt sĩ Cúc, kể: “Chúng tôi cưới nhau đầu năm 1973, có 2 con gái là Phan Thị Thanh Nhàn (năm nay 48 tuổi, đang là giáo viên Trường tiểu học xã Hưng Tây) và Phan Thị Huyền (năm nay 44 tuổi). Ông Cúc hát hay đàn giỏi nên giữa năm 1976 được cử đi học Trường Sĩ quan chính trị. Đầu năm 1979, đi thực tập ở đơn vị đóng quân tại thị trấn Đồng Đăng (Lạng Sơn). Sáng 17.2.1979, quân Trung Quốc tràn sang, ông ấy chiến đấu và hy sinh cùng anh em ngay trong buổi sáng”.

Ông Bùi Văn Xuân vẫn giữ chiếc mũ cối do anh trai mình - liệt sĩ Bùi Bá Việt, tặng cách đây 45 năm. Ảnh: Mai Thanh Hải
Ông Bùi Văn Xuân vẫn giữ chiếc mũ cối do anh trai mình - liệt sĩ Bùi Bá Việt, tặng cách đây 45 năm. Ảnh: Mai Thanh Hải
“Năm 1983, tôi cùng anh rể và em trai ông Cúc ra thị trấn Đồng Đăng đưa ông ấy về. Ông ấy hy sinh ở lèn đá với chục anh em và được chôn cất ngay thung lũng bên dưới. Khi chúng tôi lên, đã có 3 anh được người thân đưa về, chỉ còn 7 người nằm lại, trong đó có ông Cúc. Trận tháng 2.1979, xã này có 10 người hy sinh ở Lạng Sơn và các gia đình cùng góp tiền thuê xe, ra đưa con cháu mình về nghĩa trang của xã. Mãi năm 1992, ông Cúc mới ra nghĩa trang liệt sĩ H.Hưng Nguyên”, bà Lương rành rọt.
Anh đi bộ đội thay em
Rất vất vả, chúng tôi mới tìm thấy gia đình anh Lê Hữu Giáp (cháu ruột, đang thờ cúng liệt sĩ Lê Hữu Tới) ở xã Quỳnh Hưng, H.Quỳnh Lưu (Nghệ An). Ngồi nói chuyện với anh Giáp và 2 cô là em gái liệt sĩ Tới, mới biết: Năm 1970, anh Tới 22 tuổi đang học khoa Văn, Đại học Sư phạm Vinh thì tình nguyện đi bộ đội thay cho em trai Lê Hữu Lợi. Giữa năm 1976, trước khi ra Bắc Ninh học Trường Sĩ quan chính trị, anh Tới cưới cô sinh viên Nguyễn Thị Thủy lúc ấy đang học năm 2 khoa Sinh, Đại học Sư phạm Vinh, và hẹn “cả hai cùng tốt nghiệp ra trường, xin về Quân khu 4 gần nhà thì mới sinh con, cho vợ đỡ vất vả”. Đầu năm 1979, thiếu úy Lê Hữu Tới thực tập tại Đại đội 9, Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 567 (Quân khu 1).
Ngày 17.2.1979, quân Trung Quốc tràn qua cửa khẩu Tà Lùng xuống TX.Cao Bằng (nay là TP.Cao Bằng). Với chức danh chính trị viên, thiếu úy Lê Hữu Tới đã chỉ huy Đại đội 9 chặn đánh địch quyết liệt ở khu vực ngã ba Cách Linh (nay thuộc H.Quảng Hòa, Cao Bằng). Sáng 18.2.1979, sau khi đã bắn đến viên đạn cuối cùng, thiếu úy Lê Hữu Tới chỉ huy bộ đội đánh giáp lá cà và toàn bộ lực lượng phòng ngự đã hy sinh. Chục ngày sau, quân tăng viện lên thì thi hài bộ đội hầu như bị mất hết.
“Quân khu 1 gồm 6 tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Giang, Bắc Ninh, Bắc Kạn, Thái Nguyên, trong đó có 2 tỉnh biên giới Cao Bằng và Lạng Sơn với 564,865 km đường biên giới quốc gia và 1.108 cột mốc.
Sau khi bộ đội tình nguyện Việt Nam giúp cách mạng Campuchia lật đổ chế độ diệt chủng Pol Pot - Ieng Sary, giải phóng thủ đô Phnom Penh vào ngày 7.1.1979, từ bên kia biên giới, hàng chục vạn quân đối phương
đã áp sát biên giới phía bắc nước ta, ráo riết phát động chiến tranh. Sau hàng loạt vụ khiêu khích, phá hoại và lấn chiếm, rạng sáng 17.2.1979, đối phương đã phát động cuộc chiến tranh trên toàn tuyến biên giới phía bắc từ Móng Cái (Quảng Ninh) đến Phong Thổ (Lai Châu).
Sau khi nắm chắc tình hình chiến sự, Thường vụ Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Quân khu và các cơ quan đã họp bàn, thống nhất phương án tác chiến ngăn chặn các hướng mũi tiến công của đối phương. Trung tướng Đàm Quang Trung, Tư lệnh Quân khu 1, đã ra mệnh lệnh cho các đơn vị phía trước kiên quyết chiến đấu, bảo vệ biên cương của Tổ quốc.
Theo đó, trên hướng Cao Bằng, Quân khu chỉ đạo Sư đoàn 346, Trung đoàn 567; hướng Lạng Sơn có Sư đoàn 3, Sư đoàn 338, Trung đoàn 123 bộ đội địa phương của tỉnh, cùng công an vũ trang, dân quân, tự vệ và các đơn vị của Bộ được tăng cường, ngăn chặn đà tiến công của đối phương, đánh trả quyết liệt, giành giật với địch từng tấc đất, gây cho đối phương nhiều tổn thất nặng nề về sinh lực và phương tiện chiến tranh.
Trước sức tiến công mạnh mẽ của quân và dân ta, đồng thời bị dư luận tiến bộ trên thế giới kịch liệt lên án, ngày 5.3.1979, đối phương tuyên bố rút quân và kết thúc rút quân về nước vào ngày 18.3.1979”…
Trung tướng Dương Đình Thông, Chính ủy Quân khu 1
(còn tiếp)
Theo Mai Thanh Hải (TNO)

Có thể bạn quan tâm

Nghề xưa vẫn chảy bên dòng sông Côn

Nghề xưa vẫn chảy bên dòng sông Côn

(GLO)- Bên dòng sông Côn, đoạn chảy qua thôn Kiên Mỹ (xã Tây Sơn, tỉnh Gia Lai) từ lâu đã hình thành những xóm nghề gắn với đời sống người dân như làm đậu khuôn, giá đỗ, bún, bánh tráng, các loại bánh truyền thống, trồng rau... 

Phía sau đầu sóng Trường Sa

Phía sau đầu sóng Trường Sa

Bán đảo Cam Ranh nắng gió có một khu đô thị đặc biệt mang tên Khu đô thị Căn cứ quân sự Cam Ranh (Khánh Hòa). Sau những ô cửa bình yên nơi đây là mái ấm của các gia đình quân nhân, trong đó có những người vợ đang ngày ngày thay chồng chăm lo tổ ấm, khi các anh làm nhiệm vụ nơi đầu sóng Trường Sa.

Thầy tôi là nhà cách mạng làm thơ

Thầy tôi là nhà cách mạng làm thơ

Tôi gọi cha tôi bằng 'thầy' vì ông cụ muốn tôi nhớ lại gốc gác của mình từ một làng nào đó ở đất Nghệ An. Người Bắc hay gọi cha là thầy, mẹ là u. Bên nội tôi là người di dân, vào Quảng Ngãi từ mấy trăm năm trước.

Lưu giữ ký ức thời hoa lửa bằng công nghệ

Lưu giữ ký ức thời hoa lửa bằng công nghệ

(GLO)- Chiến tranh đã lùi xa hơn nửa thế kỷ. Những người trực tiếp đi qua những năm tháng khốc liệt ấy, nay đều đã ở tuổi xế chiều. Nhưng thời gian không chờ đợi ai. Khi những nhân chứng dần vắng bóng, cũng là lúc nhiều mảnh ghép ký ức về lịch sử dân tộc không còn cơ hội được kể lại.

Lộ Diêu vươn mình từ gian khó

Lộ Diêu vươn mình từ gian khó

(GLO)- Trước đây, Lộ Diêu (phường Hoài Nhơn Đông) như một thế giới tách biệt với bên ngoài. Ðặc trưng địa hình và cuộc sống của người dân nơi đây được đúc kết qua câu: “Lộ Diêu một biển ba đèo - Gian nan đã vượt, khó nghèo đã qua”.

Mang con dấu đến bản

Mang con dấu đến bản

Hai đứa con đã 15 và 13 tuổi, nhưng lần đầu tiên, vợ chồng anh Moong Văn Phong mới đi làm khai sinh cho con khi Trung tâm Phục vụ hành chính công xã Nhôn Mai (Nghệ An) mang con dấu đến tận bản để làm thủ tục cho dân.

Những dáng lính vùng biên

Những dáng lính vùng biên

(GLO)- Tôi gặp những người lính trên những chuyến tàu tuần tra ngoài khơi xa, giữa những hải trình dọc dài duyên hải đồng hành, làm chỗ dựa bảo vệ ngư dân và giữ gìn an ninh trật tự trên biển quê hương; gặp họ giữa những vùng biên giới Campuchia heo hút đầy nắng gió.

Ruổi rong đời chăn vịt

Ruổi rong đời chăn vịt

(GLO)- Sau mỗi mùa gặt, những cánh đồng lúa ở các xã An Lương, An Hòa, An Vinh, Tuy Phước… lại rộn ràng bởi đàn vịt hàng nghìn con tìm về kiếm ăn. Gắn với đàn vịt, những người chăn vịt miệt mài rong ruổi qua nhiều cánh đồng, lấy mùa gặt làm nhịp mưu sinh.

Trầm tích sông Ba

Trầm tích sông Ba

(GLO)- Sông Ba đoạn qua xã Ia Dreh (tỉnh Gia Lai) mùa khô, vài con thuyền đánh cá nằm gối đầu nghỉ ngơi trên những doi cát. Chiều xuống, từ những bến sông, người dân vẫn ra tắm mát dù nước cạn tới mức có thể lội ra giữa dòng.

Những dấu vết bí ẩn ven sông Ba

Những dấu vết bí ẩn ven sông Ba

(GLO)- Men theo bờ sông Ba đoạn chảy qua buôn Tơnia (xã Ia Rsai, tỉnh Gia Lai), khi nắng cuối ngày hắt những tia vàng lấp lánh trên mặt nước, chúng tôi bắt gặp những vật thể lạ nhô lên khỏi lớp đất sét. 

Miếu thờ liệt sĩ bên suối Hội Phú

Miếu thờ liệt sĩ bên suối Hội Phú

(GLO)- Không biết tên tuổi, quê quán những người lính hy sinh trong trận đánh Tết Mậu Thân 1968 tại Pleiku, người dân bên suối Hội Phú (phường Hội Phú, tỉnh Gia Lai) vẫn âm thầm thắp những nén nhang rồi lập miếu thờ ngay nơi các anh từng nằm xuống. 

Vị Xuyên - Bạn tôi vẫn còn đó

Vị Xuyên - Bạn tôi vẫn còn đó

(GLO)- Vùng biên giới Vị Xuyên, tỉnh Tuyên Quang (Hà Giang cũ) hôm nay đã đổi thay, nhưng những người đồng đội của tôi vẫn còn đó, nằm ngay ngắn trong đội hình “hàng thẳng hàng, lối thẳng lối, quân dung tươi tỉnh” tại Nghĩa trang Liệt sĩ Quốc gia Vị Xuyên.

null