Thao thức Cà Ná: Khởi nguồn từ chiếc ghe bầu

Theo dõi Báo Gia Lai trên Google News

Hơn hai thế kỷ lập làng, đất Cà Ná vẫn nắng, vẫn gió, vẫn khô cằn nhưng làng biển này giờ đã mang dáng dấp của một thị tứ nhộn nhịp.

Phía ngoài quốc lộ 1, nhà hàng, khách sạn, khu du lịch, cửa hàng buôn bán mọc lên sầm uất. Trong các ngõ làng, nhà cửa san sát, giá đất đã cao ngang ngửa với Phan Rang. Tất cả những đổi thay ấy đều được dựng xây nên từ bàn tay chai sần của nhiều thế hệ lưu dân Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên...

Vùng biển mặn nhất xứ An Nam

 

Bến cảng Cà Ná luôn tấp nập tàu công suất lớn.
Bến cảng Cà Ná luôn tấp nập tàu công suất lớn.

Ông Võ Ngọc Quang (81 tuổi) là con cháu đời thứ tư của dòng họ Võ ở Sông Cầu (Phú Yên) di cư vào Cà Ná từ giữa thế kỷ 19. Dù vậy, những người như ông Quang đều được gọi là dân Cà Ná gốc. Bởi đó là những người trong dòng tộc gắn bó lâu năm nhất với đất Cà Ná. Mồ hôi, xương máu của họ đã đổ xuống để có một Cà Ná như hôm nay.

Gia đình ông cố của ông Quang từ Phú Yên vào Cà Ná trên chiếc ghe bầu chèo tay. Đi hết nửa con trăng, sau mấy lần né sóng ở các gành biển dọc đường, cuối cùng cũng vào đến Cà Ná.

“Ông nội tui kể lại hồi đó xứ này người Kinh thưa thớt, chỉ có cái đình làng bằng cây rừng, lợp lá buông. Phía sát chân núi là làng của người Rắc Lây, ông bà tụi tui đánh được cá lại lên đó đổi bắp gạo về ăn...” - ông Quang kể lại về những buổi đầu khai phá đất Cà Ná.

Ông Nguyễn Văn Bông - chủ tịch Hội người cao tuổi xã Phước Diêm - cho biết không chỉ gia tộc họ Võ mà tất cả những lưu dân di cư vào xứ biển này từ Nam - Ngãi - Bình - Phú hầu hết đều đến đây bằng ghe bầu.

Thuộc lớp người di cư muộn nhất vào Cà Ná, nhưng đến tận năm 1967 khi theo gia đình từ Sông Cầu (Phú Yên), ký ức chuyến vượt biển đi tìm miền đất mới của ông Bông vẫn là những chiếc ghe bầu chèo tay như bao thế hệ lưu dân đến Cà Ná.

“Giàu có thì không ai bỏ xứ mà đi, chỉ có dân nghèo nên cứ ghe bầu men theo bờ mà đi, khi nào đuối sức thì ghé vô gành nghỉ lại. Tụi tui là thế hệ cuối cùng di cư vào đây, nay cũng gần nửa thế kỷ rồi” - ông Bông nhớ lại.

Ký ức của ông Võ Ngọc Quang dù chỉ từ lời kể của cha ông khá trùng khớp với tài liệu còn ghi trong tài liệu của người Pháp về mảnh đất này. Đó là ghi chép về quá trình xây dựng nên Sở muối Cà Ná vào năm 1927.

Người vẽ bản thiết kế và xây dựng nên Sở muối Cà Ná vào lúc đó là Barbarin - một nhà mại bản người Pháp. Barbarin cho biết ông đã đến mảnh đất này rất nhiều năm trước để thăm dò rồi quyết định xây Sở muối.

Theo lời Barbarin, cuối thế kỷ 19 Cà Ná vẫn còn là vùng đất hoang vu, những cánh rừng chà là chạy từ núi cao ra sát mép biển, thú dữ đông hơn dân làng. Ông chủ Sở muối đã phải thuê hàng ngàn nhân công từ nhiều nơi đến để bạt rừng, phá núi, chở nước ngọt từ nơi khác đến, với quyết tâm xây dựng sở muối đầu tiên ở phần Nam Trung kỳ vì đây là vùng có nước biển mặn nhất xứ An Nam.

Sự hoang vu của Cà Ná cũng được mô tả trong Đại Nam nhất thống chí, khi vào năm 1890 địa hạt hành chính của Cà Ná chỉ mới có làng Lạc Nghiệp với vài chục nóc nhà. Cư dân bắt đầu tăng thêm khi tuyến đường sắt Sài Gòn - Nha Trang nối thông (năm 1910) và chọn Cà Ná là một ga đón khách, rồi Sở muối được hình thành năm 1927 và có thêm làng Thương Diêm ra đời.

“Nhờ đó không chỉ ghe bầu của những đoàn di dân mà ghe buôn hải sản, ghe chở muối, ghe buôn gạo mắm, cá mực cũng đông hơn. Hồi tui còn nhỏ, cha tui cũng mấy lần về xứ đưa thêm bà con vô đây. Lúc đó không chỉ làm nghề biển mà đóng ghe, thợ nề, thợ mộc, thợ rèn... cũng đưa vô. Sinh con, đẻ cháu rồi hình thành thêm nhiều làng nữa” - ông Võ Ngọc Quang kể tiếp về hành trình của Cà Ná.

Đội tàu đông nhất tỉnh

 

Cá cơm là nguồn hải sản tạo nên thương hiệu của làng biển Cà Ná.
Cá cơm là nguồn hải sản tạo nên thương hiệu của làng biển Cà Ná.

Từ một làng Lạc Nghiệp lúc khai lập với vài chục nóc nhà, đất Cà Ná bây giờ đã tách thành 10 làng ở hai xã Cà Ná và Phước Diêm, dân số trên 23.000 người. Hàng chục năm nay, kể cả khi đã tách xã, Cà Ná và Phước Diêm luôn là những xã thu ngân sách dẫn đầu huyện Thuận Nam.

Ông Đào Ngọc Ky (70 tuổi) ở thôn Lạc Sơn, xã Cà Ná kể hơn 50 năm trước, thời trai trẻ ông cùng anh em đi biển chỉ trên chiếc thuyền chèo tay hoặc chiếc thúng chai, không hề có ghe máy, tàu lớn như bây giờ. Nhưng nhờ nước biển sạch và có nhiều rạn san hô kéo dài tận cù lao Câu nên cá tôm bắt không xuể.

Ông Ky nói lúc đó người Cà Ná thường lên rừng chặt là a (một loại tre) về kết chà, kết mành và thả xuống biển để dụ cá. Chỉ sau chừng nửa tháng thì cá kéo đến đông đặc, cứ thế vừa đánh bắt vừa di chuyển chà vào gần bờ hơn. “Thời đó chưa có ghe máy nên chỉ đánh mấy tháng mùa nam, đến mùa gió bấc, cỡ tháng 9 âm lịch là ngưng đi biển vì lúc đó sóng gió dữ lắm!” - ông Ky nhớ lại.

 

3 đợt di cư

Người dân Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên đi cư vào Cà Ná làm nhiều đợt. Nhưng theo các tài liệu và lời kể của các cụ cao tuổi ở Cà Ná, có ba đợt di dân lớn. Thế hệ đầu tiên vào đầu thế kỷ 19, những ghe buôn của người Quảng Ngãi, Bình Định thấy vùng biển nhiều tôm cá, có bãi đất bằng phẳng dưới chân núi đã chọn Cà Ná làm điểm dừng chân mưu sinh.

Đợt thứ hai vào cuối thập niên 1930, khi Sở muối Cà Ná thành lập, dân cư Cà Ná lúc này hơn 300 người và tăng dần khi các ghe bầu chở người di cư vào càng đông. Và đợt thứ ba là vào những năm 1960, do chiến tranh loạn lạc nên người Cà Ná tìm về quê cũ và đưa anh em họ hàng vào làm ăn, sinh sống.

Đó là chuyện xưa, còn bây giờ trong buổi sáng đầu tiên đến bến cảng Cà Ná vào giữa tháng 9, chúng tôi đã choáng ngợp vì lượng tàu thuyền về bến ở vùng đất này đông đúc không kém bất kỳ bến tàu lớn nào tại miền Trung.

Ông Võ Hùng, chủ chiếc ghe có công suất trên 300 CV vừa cập bến, sau một đêm đánh cá cơm cách bờ chỉ hơn mười hải lý, chiếc ghe của ông đánh được gần 50 giỏ cá cơm than. Giá mua tại cảng bữa đó là 480.000 đồng/giỏ 15 kg. Trừ chi phí và phần chia cho những người đi bạn, ông Hùng có gần 10 triệu sau một đêm biển.

Nhưng ông Hùng nói có những đêm biển vào mùa cá nam, chủ ghe ở Cà Ná “vô” cỡ trăm triệu đồng là bình thường. “Ghe như tui ở làng Cà Ná này đếm mỏi tay. Chiếc này tui đóng bảy năm rồi, bây giờ nhiều người đóng mới, tính chuyện cả tám, chín trăm mã lực” - ông Hùng nói.

Anh Bạch Thuận Phú - phó chủ tịch xã Phước Diêm - cho biết chỉ riêng xã này đã có gần 500 chiếc tàu, tổng công suất gần 100.000 CV. Xã Cà Ná dù có đội tàu nhỏ hơn nhưng cũng có tổng công suất trên 53.000 CV. Năm 2015, đội tàu của Cà Ná và Phước Diêm đã đánh bắt được hơn 46.000 tấn hải sản, bằng tất cả sản lượng các làng biển khác trong toàn tỉnh Ninh Thuận cộng lại.

Mấy trăm năm từ lúc lập làng, từ những chiếc ghe bầu chèo tay đi tìm vùng đất hứa đến đội tàu hùng mạnh vươn ra ngư trường xa, người Cà Ná đã đi một chặng đường dài. Và con cháu những lưu dân Nam - Ngãi - Bình - Phú ấy vẫn miệt mài đi tiếp, kể tiếp câu chuyện từ chiếc ghe bầu vượt biển của cha ông mình.

 

Theo tuoitre

Có thể bạn quan tâm

'Sói biển' Lý Sơn và hành trình nối biển ra Hoàng Sa

'Sói biển' Lý Sơn và hành trình nối biển ra Hoàng Sa

Ở đặc khu Lý Sơn (Quảng Ngãi), lão ngư Dương Minh Thạnh được nhiều ngư dân gọi là “lão ngư Hoàng Sa” bởi có công “nối biển” Lý Sơn ra quần đảo Hoàng Sa. Ông còn được mệnh danh là “sói biển” Lý Sơn, bởi sức vươn khơi dẻo dai, từng 5 lần thoát chết thần kỳ giữa bão biển.

Xây dựng thế trận lòng dân nơi tà đạo "Hà Mòn" đi qua - Kỳ 3: Gieo lại niềm tin trên đất cũ

E-magazine Xây dựng thế trận lòng dân nơi tà đạo "Hà Mòn" đi qua - Kỳ 3: Gieo lại niềm tin trên đất cũ

(GLO)- Khi tà đạo “Hà Mòn” tan biến, trên những buôn làng ở xã Hra, xã Đak Pơ, niềm tin làm giàu đang được gieo lại từ chính mảnh đất cũ. Nhờ sự vào cuộc của cấp ủy, chính quyền, lực lượng chức năng cùng ý chí vươn lên của người dân, những vùng đất này đang chuyển mình mạnh mẽ. 

Xây thế trận lòng dân từ sâu rễ bền gốc nơi tà đạo Hà Mòn đi qua

E-magazine Xây dựng thế trận lòng dân nơi tà đạo Hà Mòn đi qua - Kỳ 2: Tỉnh ngộ sau chuỗi ngày tối tăm

(GLO)- Phía sau những lời hứa hẹn mơ hồ về một cuộc sống sung túc không cần lao động. Ở một số buôn làng, những mái nhà vốn yên ấm bị xáo trộn. Chỉ khi cấp ủy, chính quyền, lực lượng chức năng kiên trì vận động, nhiều người mới dần nhận ra sự thật, tỉnh ngộ và quay về với cuộc sống bình thường.

Xây dựng thế trận lòng dân nơi tà đạo “Hà Mòn” đi qua - Kỳ 1: Nơi bóng tối tà đạo “Hà Mòn” đi qua

E-magazine Xây dựng thế trận lòng dân nơi tà đạo “Hà Mòn” đi qua - Kỳ 1: Nơi bóng tối tà đạo “Hà Mòn” đi qua

(GLO)- Có một thời, ở những ngôi làng Bahnar như Kret Krot (xã Hra), Kuk Kôn, Kuk Đak (xã Đak Pơ), nhịp sống bình yên bỗng chùng xuống. Tà đạo Hà Mòn như một “cơn gió độc” quét qua, để lại phía sau sự im ắng nặng nề, len lỏi vào từng mái nhà, khiến buôn làng trở nên khép kín, u ám.

Thúng chai lên phố

Thúng chai lên phố

Nghề đan thuyền thúng bằng tre (thúng chai) dùng để đi biển đánh bắt hải sản sau hàng trăm năm giờ đang dần mai một. Những ngư dân miền Trung vẫn âm thầm bám nghề bằng tình yêu mưa nắng đời người, và ngày càng nhiều những chiếc thúng chai rời biển về phố làm du lịch.

Những chuyện tình xuyên biên giới ở Ia O

Những chuyện tình xuyên biên giới ở Ia O

(GLO)- Trên vùng biên Ia O (tỉnh Gia Lai), dòng Pô Cô vừa là ranh giới tự nhiên, vừa là nhịp cầu kết nối lương duyên. Từ những lần qua lại thăm thân, dự lễ hội, nhiều mối tình nảy nở, hình thành nên những mái ấm xuyên biên giới bình dị, bền bỉ, góp phần dệt nên diện mạo riêng nơi phên giậu Tổ quốc.

Làng bồng bềnh trên dòng Pô Kô

Làng bồng bềnh trên dòng Pô Kô

Giữa miền biên viễn phía tây Gia Lai, trên dòng Pô Kô hùng vĩ, hàng chục gia đình từ Tây Nam bộ tìm đến lập nghiệp, dựng nên những căn nhà nổi chông chênh giữa sóng nước. Cuộc mưu sinh lặng lẽ thể hiện nghị lực của con người, ý chí bám trụ và khát vọng sống chan hòa cùng sông nước.

Bám rừng giữ “báu vật” giáng hương

Bám rừng giữ “báu vật” giáng hương

(GLO)- Ẩn giữa rừng sâu xã Krong (tỉnh Gia Lai), những căn lán nhỏ được dựng ngay dưới gốc giáng hương cổ thụ. Đó là nơi lực lượng bảo vệ rừng ăn ngủ, thay nhau canh giữ từng cây hương quý - những “báu vật” của đại ngàn.

Bộ đội Biên phòng lan tỏa không khí bầu cử nơi biên giới

Bộ đội Biên phòng lan tỏa không khí ngày hội lớn của toàn dân nơi biên giới

(GLO)- Những ngày cận kề cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026-2031, cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng Ia Mơ (tỉnh Gia Lai) phối hợp với chính quyền, già làng, người uy tín đến từng làng tuyên truyền, vận động bà con sẵn sàng tham gia ngày hội lớn của toàn dân.

Đội SOS Long Hải: Giữ bình yên cho những cung đường

Đội SOS Long Hải: Giữ bình yên cho những cung đường

Khi phố xá đã lên đèn và nhiều gia đình yên giấc, trên những tuyến đường thuộc xã Long Hải (TPHCM) vẫn có những ánh đèn xe lặng lẽ di chuyển. Đó là ánh đèn của Đội SOS Long Hải - nhóm thanh niên tình nguyện đã suốt 7 năm qua hỗ trợ người dân gặp sự cố giao thông trong đêm.

Đêm đập trống dưới ánh trăng rừng

Đêm đập trống dưới ánh trăng rừng

Giữa vùng lõi của Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng, nơi núi đá vôi dựng đứng như những bức tường thành và rừng già nối tiếp đến tận biên Việt - Lào, có một lễ hội mà mỗi nhịp trống vang lên dường như làm nghiêng ngả cả đại ngàn: Lễ hội Đập trống của người Ma Coong.

'Rừng thiêng' giữa đại ngàn

'Rừng thiêng' giữa đại ngàn

Giữa đại ngàn Trường Sơn hùng vĩ, nơi mây trắng quấn quýt những đỉnh núi của vùng cao Đà Nẵng, có một cánh rừng không chỉ xanh bởi lá, mà còn xanh bởi ký ức. Người dân gọi đó là 'rừng bác Năm Công'.

Cán bộ trại giam động viên, chia sẻ với phạm nhân.

Tình người sau cánh cổng trại giam

(GLO)- Từ những câu chuyện rất thật của người trong cuộc, có thể thấy tính nhân văn trong công tác giáo dục, cải tạo phạm nhân tại Trại tạm giam số 1, Công an tỉnh Gia Lai. Đó là nơi cán bộ, chiến sĩ đang kiên trì cảm hóa những người lầm lỗi bằng trách nhiệm và lòng nhân ái.

“Thần y trị điểu”

“Thần y trị điểu” ở An Khê

(GLO)- Hàng chục năm qua, căn nhà của anh Hoàng Huy (SN 1992, ở tổ 1, phường An Khê, tỉnh Gia Lai) luôn ríu rít tiếng chim. Ở đó, anh Huy âm thầm cứu chữa cho hàng trăm chú chào mào mắc bệnh từ khắp nơi gửi về.

Ấm áp những ngôi nhà tái định cư

Ấm áp những ngôi nhà tái định cư

(GLO)- Về thăm những khu tái định cư vùng thiên tai trên địa bàn tỉnh Gia Lai, chúng tôi cảm nhận được mùa xuân ấm áp đang về cùng với sắc hoa tươi thắm, khung cảnh sản xuất, sinh hoạt nhộn nhịp đang định hình trên vùng đất mới.

null