Ra mắt sách Nghệ thuật xứ An Nam

Theo dõi Báo Gia Lai trên Google News

Tối 21-2, tại Trung tâm văn hóa Pháp (Hà Nội, đã diễn ra buổi ra mắt cuốn sách Nghệ thuật xứ An Nam của tác giả người Pháp Henri Gourdon (Trương Quốc Toàn dịch).

 

Dịch giả Trương Quốc Toàn ký sách tặng độc giả.
Dịch giả Trương Quốc Toàn ký sách tặng độc giả.



Cuốn sách là cái nhìn của một người Pháp từng sinh sống và gắn bó với xứ An Nam một thời gian dài về bối cảnh xã hội, nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc, hội hoạ, thủ công mỹ nghệ... của nước ta đầu thế kỷ 20.

Năm 1918 Henri Gourdon làm giám đốc đầu tiên của Nha học chính Đông Dương, đồng thời giảng dạy tại trường thuộc địa và đại học Bordeaux. Ngoài ra, ông còn đảm nhiệm chức vụ giám đốc kỹ thuật của Ban Đông Dương tại Triển lãm thuộc địa tổ chức tại Marseille vào năm 1922 và tại Paris vào năm 1931.

Henri Gourdon đã có đóng góp to lớn vào việc xúc tiến chương trình cải cách giáo dục của chính quyền thuộc địa Pháp tại Đông Dương, đồng thời có hiểu biết sâu sắc về An Nam.

Ông cũng là tác giả của cuốn Indochine (Đông Dương) xuất bản tại NXB Larousse vào năm 1931, được biết đến với rất nhiều bức ảnh chụp Việt Nam vào thời gian này.

Trên cơ sở nghiên cứu các ghi chép liên quan và thực tế trải nghiệm của bản thân, Henri Gourdon ̉ đã đưa ra cái nhìn toàn cảnh về nguồn gốc và xu hướng phát triển của nghệ thuật tại xứ An Nam, kèm theo 16 bức ảnh tư liệu quan trọng, minh họa sống động cho các thành tựu mà nghệ thuật xứ An Nam đã đạt được tính đến năm 1930.

Sách được chia làm năm phần, phần mở đầu mô tả khái quát các đặc điểm xã hội, dân tộc, lịch sử chung của đất nước An Nam, ba phần tiếp theo mô tả các ngành nghệ thuật: kiến trúc, điêu khắc và hội họa, thủ công mỹ nghệ, và cuối cùng là xu hướng vận động của các lĩnh vực này trong bối cảnh An Nam là thuộc địa của Pháp.

Nhà phê bình Mai Anh Tuấn cho rằng, trong công cuộc tiếp xúc với người Pháp đầu thế kỷ 20 thì ngoài những tiếp xúc bằng súng ống, chiến tranh thì còn có một cuộc tiếp xúc đáng kể nữa đó là tiếp xúc bằng văn hoá.

“Việc tác giả viết về nghệ thuật xứ An Nam là một trong những bổ sung đầy thú vị, đầy hấp dẫn để chúng ta có thể suy nghĩ, nhận thức thêm về VN truyền thống, đặc biệt trong lĩnh vực nghệ thuật. Tôi nghĩ đó chính là một trong những điểm cởi mở thú vị của cuốn sách xuất bản từ cách đây 80 năm”.

Chia sẻ lý do thôi thúc ông bắt tay dịch tác phẩm này, dịch giả Trương Quốc Toàn không cởi mở rằng: “Quả thực trong quá trình đọc bản gốc tiếng Pháp cuốn sách, đôi lúc tôi cảm thấy hơi gai người bởi vì không hiểu sao tác giả lại viết đúng như vậy…

Tôi khẳng định rằng có những nội dung tôi ít tìm thấy trong những cuốn  sách do các tác giả VN viết. Vì vậy, tôi quyết định nhận lời dịch cuốn sách này để có thể truyền tải đến độc giả, công chúng và những người đam mê tìm hiểu về nghệ thuật, di sản của VN. Những người thích quan tâm đến những góc nhìn đa chiều, sống động cũng có thể tìm thấy những giá trị nằm trong cuốn sách này”.

 

Sách do Nhã Nam và NXB Thế giới ấn hành
Sách do Nhã Nam và NXB Thế giới ấn hành



Theo dịch giả Trương Quốc Toàn, cuốn sách có nhiều điểm thú vị với những quan điểm của tác giả về nghệ thuật xứ An Nam có thể trở thành chủ đề tranh luận sôi nổi.

Tác giả khẳng định khi người Pháp tới và áp đặt bộ máy thực dân lên Đông Dương đã tạo ra những thay đổi trong hệ thống giáo dục An Nam thời bấy giờ. Trước đó thì từ bộ máy hành chính đến mô hình giáo dục của An Nam bị ảnh hưởng rất nhiều bởi mô hình của Trung Hoa, nên chỉ khi người Pháp xuất hiện thì mới có hệ thống giảng dạy bằng tiếng An Nam, có hệ thống trường từ cơ sở lên đào tạo đại học.

Nhờ có người Pháp mà thợ thủ công được giải phóng để hành nghề một cách độc lập và họ có được những địa vị xã hội hơn hẳn. Trước đó tác giả cho rằng, người nghệ sĩ, thợ thủ công An Nam ít tính sáng tạo, chủ yếu đi theo khuôn mẫu. Khi người Pháp sang thì họ muốn các nghệ sĩ đẩy mạnh sáng tạo theo hướng cái tôi cá nhân nhiều hơn.

Nhưng tác giả cũng phê phán người Pháp tác động vào nghệ thuật An Nam khi nhận định không chỉ người An Nam mà cả người Viễn Đông khi tiếp xúc với người phương Tây thì đều có xu hướng làm cho giá trị tác phẩm nghệ thuật của mình bị giảm sút.

Nhiều ví dụ cụ thể được Henri Gourdon đưa ra như: khi người Pháp sang thì hướng thợ thủ công đi theo mô hình kinh tế thị trường, nên các đơn đặt hàng của người Pháp đưa sang đã làm cho các thợ thủ công An Nam chạy theo số lượng, tiến độ giao hàng mà bỏ qua những khâu trau truốt, tỉ mỉ trong tác phẩm nghệ thuật của mình.

Thậm chí họ còn dùng các nguyên liệu rất kém. Trước đây họ nhuộm vải bằng màu thực vật thì nay được thay hết bằng hoá chất; trong nghề chế tác ngà voi thì bổ sung cả xương cá vào; trong nghề khảm trai thì trước đây chỉ khai thác ở vùng biển Nam Trung Bộ và Nam Bộ thì bây giờ sẵn sàng dùng cả vỏ trai song ở Bắc Kỳ; các sản phẩm gỗ mỹ nghệ trước đây phơi rất lâu năm nhưng bây giờ sẵn sang dung cả gỗ tươi…

Henri Gourdon còn nhận định, đầu thế kỷ 20 người phụ nữ An Nam có đời sống cao hơn hẳn một số nước trong khu vực. Nhưng khi người phụ nữ An Nam về nhà chồng thì từ thời điểm đó, coi như họ đã từ bỏ Tổ tiên của gia đình mình.

“Tất cả những điều đó cho chúng ta thấy, đó không chỉ là vấn đề của cách đây 100 năm mà đến bây giờ nó vẫn ít nhiều có tính thời sự” - dịch giả Trương Quốc Toàn chia sẻ.

Theo Tuoitre

“Sáng tạo nghệ thuật chỉ nở rộ trong một xã hội hưng thịnh, trong một giai đoạn phồn vinh, dưới sự cai trị của những ông hoàng có lối sống xa hoa và nhờ vào một chế độ bảo trợ sáng suốt. Tất cả những điều đó đều thiếu vắng trên mảnh đất An Nam, cũng giống như thiếu vắng những thú vui của cuộc sống thái bình”.

Trích sách Nghệ thuật xứ An Nam

Có thể bạn quan tâm

Tiếp sức cho nghệ thuật truyền thống

Tiếp sức cho nghệ thuật truyền thống

(GLO)- Nghị quyết số 19/2026/NQ-HĐND được HĐND tỉnh Gia Lai thông qua ngày 24-4-2026 (có hiệu lực từ ngày 4-5-2026) với nhiều chính sách hỗ trợ cụ thể cho nghệ thuật truyền thống, được kỳ vọng tạo thêm động lực cho đội ngũ nghệ sĩ, nghệ nhân, các đoàn nghệ thuật hiện có và gầy dựng lực lượng kế cận.

Thơ Phan Trung Lý: Nhớ Quy Nhơn

Thơ Phan Trung Lý: Nhớ Quy Nhơn

(GLO)- “Nhớ Quy Nhơn” của Phan Trung Lý là dòng hoài niệm đầy cảm xúc về miền biển thi vị với sóng biển, Ghềnh Ráng, dốc Mộng Cầm và dấu xưa Hàn Mặc Tử. Bài thơ gợi lên vẻ đẹp dịu dàng, sâu lắng của Quy Nhơn - nơi cảnh sắc và thi ca như hòa vào nhau trong nỗi nhớ khôn nguôi.

Chạm vào bình yên nơi quê Bác

Chạm vào bình yên nơi quê Bác

(GLO)- Mười hai năm làm dâu xứ Nghệ, tôi không nhớ mình đã bao lần đi qua xã Kim Liên để về nhà chồng. Chỉ biết rằng, mỗi lần ngang qua biển chỉ dẫn vào Khu di tích lịch sử Kim Liên, lòng tôi lại khẽ reo lên như thấy một dấu mốc đặc biệt: “Về đến quê Bác rồi…”. 

Thơ Phạm Thanh Dũng: Thăm vườn tượng suối Hội Phú

Thơ Phạm Thanh Dũng: Thăm vườn tượng suối Hội Phú

(GLO)- Giữa không gian xanh mát của suối Hội Phú, những tác phẩm điêu khắc mang đậm hơi thở Tây Nguyên như đang kể câu chuyện về con người, văn hóa và nhịp sống đại ngàn. Bài thơ “Thăm vườn tượng suối Hội Phú” là hành trình cảm xúc đầy chất thơ giữa nghệ thuật và thiên nhiên phố núi.

Những đóa hoa lòng

Những đóa hoa lòng

(GLO)- Khi nghĩ đến những dòng chữ ấy, tôi không có ý định đặt một tựa đề ẩn dụ cho tín niệm nào cả. Chỉ là, những ngày tháng 5 bắt đầu oi ả cứ thôi thúc tôi nhớ về khu vườn nhỏ xanh mát ở quê nhà. Dẫu gần hay xa, hiện hữu trong không gian hay ký ức vẫn thấp thoáng trong tôi những đóa hoa lòng.

Siu Quý - Cánh chim tìm về

Siu Quý - Cánh chim tìm về

(GLO)- Giới mỹ thuật phố núi không còn ngạc nhiên khi thấy họa sĩ Siu Quý đi về liên tục giữa TP Hồ Chí Minh và Pleiku. Một nơi ông lập nghiệp, một nơi là quê hương. Như cánh chim tìm về, ông đang tích cực kết nối để tổ chức nhiều hoạt động ý nghĩa tại vùng đất mình sinh ra, lớn lên.

null