Giữa miền sương núi, những giá trị văn hóa truyền thống vẫn được gìn giữ, trong khi những cách làm mới trong sản xuất mở ra kỳ vọng về tương lai no ấm hơn.
Làng Díp cách trung tâm phường Pleiku hơn 50 km. Nhưng, để đến đây, chúng tôi phải vượt đèo Ia Sung với những khúc cua tay áo nối tiếp trên cung đường dài hơn 10 km, uốn lượn quanh sườn núi Chư Păh, hướng lên "cổng trời" Ia Kreng. Đây cũng là địa danh gắn với tên gọi xã Ia Kreng trước khi sáp nhập thành xã Ia Ly.
Từ "cổng trời", chúng tôi tiếp tục di chuyển thêm 13 km. Làng Díp hiện ra bình yên giữa núi rừng, trong màn sương mỏng.
Giữ nếp xưa
Năm 2004, người dân làng Díp rời nơi ở cũ ven dòng sông Sê San, nhường đất phục vụ xây dựng công trình thủy điện Sê San 3A. Khu dân cư mới cách làng cũ khoảng 3 km. Với người Jrai vốn quen sinh sống bên sông suối, cuộc di dời đồng nghĩa với việc chia xa không gian sống gắn bó qua nhiều thế hệ. Ngày ấy, già Yem cùng cán bộ địa phương kiên trì đến từng nhà, lắng nghe nguyện vọng, giải thích để người dân yên tâm ổn định cuộc sống.
“Bà con phải tập thích nghi với điều kiện sinh hoạt, tính toán lại việc trồng trọt, chăn nuôi. Lúc đầu, cũng có người chưa muốn ở lại” - già làng Rơ Châm Yem nhớ lại.
Nhưng, điều khiến bà con dần gắn bó với nơi ở mới là điều kiện sinh hoạt được cải thiện, đặc biệt là sự bảo đảm về an toàn, nhà cửa và các công trình thiết yếu. Đường sá thuận tiện hơn cho việc đi lại, con em có điều kiện đến trường, người dân cũng từng bước thích nghi với đất đai và cách thức sản xuất mới. Theo già Yem, tại nơi ở mới, Nhà nước đầu tư nhà cửa, điện, đường giao thông, trường học và các công trình thiết yếu, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho sinh hoạt, sản xuất, học tập của con em.
Cuộc sống nơi ở mới dần ổn định. Đáng quý là trong quá trình thay đổi nơi cư trú, người dân vẫn ý thức gìn giữ những giá trị văn hóa của cộng đồng. Giữa làng, nhà rông vẫn là điểm sinh hoạt chung. Mỗi dịp lễ hội, tiếng cồng chiêng lại ngân vang, những vòng xoang nối dài, gắn kết các thế hệ.
Hiện làng có 2 bộ cồng chiêng chung và 5 gia đình còn lưu giữ cồng chiêng. Đội cồng chiêng của làng có gần 30 thành viên. Ông Rơ Châm Duẽp (SN 1930, người còn lưu giữ cồng chiêng) vừa giới thiệu vừa bày tỏ mong muốn: “Mình muốn trao lại cho con cháu để thế hệ sau tiếp tục gìn giữ, phát huy”. Cùng với cồng chiêng, một số người lớn tuổi vẫn duy trì nghề đan gùi, dệt vải, tạc tượng, góp phần lưu giữ bản sắc dân tộc.
Một nét sinh hoạt khác được bà con nơi đây duy trì là lễ cúng tạ ơn, tổ chức vào tháng 12 hằng năm. Các gia đình cùng đóng góp kinh phí, chung tay tổ chức lễ để bày tỏ lòng biết ơn thần linh, cầu mong mùa màng thuận lợi, gia đình bình an. Trong ngày lễ, cơm nếp là món ăn không thể thiếu.
“Trước đây, bà con thường đi làm rẫy từ sáng đến chiều muộn mới về nên có thói quen mang theo cơm nếp để ăn khi đói. Cơm nếp chắc bụng, no lâu, thuận tiện mang theo mà không cần thức ăn đi kèm. Dù cuộc sống ngày nay đã đổi thay, bà con vẫn giữ món ăn này trong lễ cúng cuối năm như một cách nhớ về nếp sinh hoạt của ông bà” - già Yem kể.
Mở hướng sinh kế trên triền đất dốc
Hơn hai thập kỷ trôi qua, những bỡ ngỡ ban đầu đã dần lùi lại. Nơi đây, nhà cửa được dựng lên, đường làng từng bước hoàn thiện, đời sống ổn định hơn. Dẫu vậy, sản xuất vẫn là bài toán không dễ giải đối với người dân làng Díp. Địa hình đồi dốc, thiếu hệ thống thủy lợi khiến hoạt động canh tác phụ thuộc nhiều vào thời tiết, hiệu quả kinh tế chưa cao.
Bí thư Chi bộ Rơ Châm Suih (SN 1989) cho biết: Làng hiện có 286 hộ dân với 990 nhân khẩu, đều là người Jrai. Trước đây, thu nhập chính của bà con chủ yếu dựa vào cây điều và bời lời. Đây là những loại cây hầu như nhà nào cũng trồng, hộ ít vài sào, hộ nhiều 3 - 4 ha. Tuy nhiên, sản xuất còn manh mún, năng suất và giá trị kinh tế chưa cao. Làng hiện có 81 hộ nghèo và 93 hộ cận nghèo. Năm 2026, địa phương đặt mục tiêu giảm 50% số hộ nghèo, từng bước cải thiện đời sống người dân.
Trước những khó khăn đó, người dân bắt đầu quan tâm lựa chọn cây trồng phù hợp hơn với điều kiện đất đai, nguồn nước và nhu cầu thị trường. Tại những khu vực đất tương đối bằng phẳng, gần suối, đã có 30 hộ trồng lúa nước 2 vụ. Đáng chú ý, trong mùa mưa năm 2026, gần 40 hộ chuyển đổi diện tích điều, bời lời năng suất thấp sang trồng cà phê.
Anh Rơ Châm Đan (SN 1986) là một trong những hộ tiên phong chuyển đổi cây trồng. “Gia đình mình có 2 đám rẫy, tổng diện tích 2,2 ha, trước đây đều trồng điều nhưng mỗi năm chỉ thu khoảng 30 - 40 triệu đồng. Năm nay, mình chuyển 1,1 ha điều gần suối Ia Soi sang trồng cà phê giống TR4; diện tích còn lại tiếp tục duy trì cây điều do xa nguồn nước, đất dốc” - anh Đan kể.
Bắt đầu với cây trồng mới, anh Đan chủ động tìm đến những hộ có kinh nghiệm trồng cà phê ở các làng khác trong xã để học hỏi, đồng thời tham gia các lớp tập huấn kỹ thuật, tìm hiểu cách chăm sóc, bón phân và phòng trừ sâu bệnh. Gia đình anh cũng đang đào hồ chứa, dự kiến bơm nước từ suối lên tích trữ để phục vụ tưới khi cần thiết.
Cách đó không xa, anh Rơ Châm Pích (SN 1978) cũng chuyển đổi 7 sào điều sang trồng 700 cây cà phê. Anh chia sẻ: “Mình thấy bà con các làng lân cận trồng cà phê cho hiệu quả kinh tế cao hơn so với trồng điều, bời lời nên cũng học hỏi làm theo. Mình hy vọng cây cà phê sẽ phát triển tốt, giúp gia đình có thêm nguồn thu nhập ổn định”.
Ông Rơ Châm Tâm - Phó Chủ tịch UBND xã Ia Ly - cho hay: Hơn 10 năm trước, người dân làng Díp chủ yếu sản xuất theo phương thức tự cung, tự cấp; việc tiếp cận kiến thức và áp dụng phương thức canh tác mới còn hạn chế. Cùng với việc tiếp nhận các chương trình hỗ trợ, người dân từng bước thay đổi tư duy sản xuất, biết cải tạo đất, phát triển cây công nghiệp, chăn nuôi và tìm kiếm hướng sinh kế phù hợp.
Chuyển biến còn thể hiện ở nhận thức về giáo dục. Nếu trước đây, làng hầu như chưa có người tốt nghiệp THPT thì nay đã có những người trẻ tiếp tục học cao đẳng, đại học; một số đi làm ăn xa để tích lũy kinh nghiệm, phát triển đời sống. Hiện làng có 2 người tốt nghiệp cao đẳng, đại học và đang làm giáo viên tại địa phương.
Trong định hướng thời gian tới, xã Ia Ly hướng đến đa dạng hóa sinh kế, khuyến khích phát triển chăn nuôi, nhất là nuôi bò; đồng thời nghiên cứu tiềm năng du lịch cộng đồng gắn với văn hóa truyền thống và cảnh quan trên sông Sê San. Việc kết nối các làng, khai thác lợi thế thiên nhiên, gìn giữ bản sắc văn hóa và tìm kiếm nguồn lực đầu tư được kỳ vọng tạo thêm động lực phát triển cho những khu vực còn nhiều khó khăn.
* * *
Chiều buông, sương mỏng phủ những triền núi. Rời làng Díp, chúng tôi trở lại cung đường quanh co dẫn về "cổng trời" Ia Kreng. Phía sau những khúc cua nối tiếp là những mái nhà bình dị, những vườn cây đang được chăm chút và bao dự định còn ấp ủ. Với sự cần cù, tinh thần đổi mới và khát vọng vươn lên, người Jrai nơi đây đang từng ngày vun đắp cuộc sống ấm no trên vùng đất mới.