Kỷ niệm 79 năm chiến thắng mở màn trên sông Lô (23.10.1947 - 23.10.2026)

Cuộc 'sánh đôi' của người chiến sĩ - nhà văn Siêu Hải và nhạc sĩ Văn Cao

Theo dõi Báo Gia Lai trên Google News

Đôi bạn đồng môn Trường Võ bị Lục quân Trần Quốc Tuấn khóa I (năm 1946): Đỗ Thiện - Nguyễn Siêu Hải đề xuất và thực hiện phương án chiến thuật đưa pháo ra bờ sông bắn trực tiếp làm nên chiến thắng mở màn trên sông Lô (ngày 23.10.1947).

Tốt nghiệp cuối năm 1946, cả hai được điều về trung đội pháo binh. Đỗ Thiện (1921 - 1999) làm trung đội phó, Nguyễn Siêu Hải (1924 - 2012) làm chính trị viên trung đội. Trung đội trưởng cũng là đồng môn: Vũ Quang Điện (Tiểu đoàn phó, Đại đoàn 304, hy sinh năm 1951).

Nhớ về Ban Chỉ huy trung đội pháo binh này, ông Đỗ Thiện từng kể: “Điện hát rất hay, thường hát cho anh em nghe, còn Siêu Hải lại thích vẽ, vẽ luôn tay cảnh sinh hoạt của anh em, kể cả chân dung một số chiến sĩ. Khi Siêu Hải vẽ, anh em cứ xúm lại xem”.

Đôi bạn Đỗ Thiện - Siêu Hải. ẢNH: TƯ LIỆU GIA ĐÌNH ÔNG ĐỖ THIỆN
Đôi bạn Đỗ Thiện - Siêu Hải. ẢNH: TƯ LIỆU GIA ĐÌNH ÔNG ĐỖ THIỆN

Khoan Bộ chiến thắng mở màn

Sinh thời, đại tá, nhà văn Nguyễn Siêu Hải kể: "Tôi có may mắn và vinh dự là một trong ba cán bộ chỉ huy pháo binh cấp trung đội - đơn vị chiến đấu cao nhất của pháo binh ta lúc đó được trao nhiệm vụ chặn đánh tàu chiến giặc tiến lên sông Lô - Việt Bắc. Sau ba trận đánh không kết quả, chúng tôi mang pháo xuống sát bờ sông đánh 'giáp lá cà' ở cự ly 800 m. Trận địa pháo được đặt xuống tận bờ sông thuộc xã Khoan Bộ, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc. Đây là trận đầu tiên pháo binh ta bắn chìm tại chỗ 2 tàu LCT của giặc chiều 23.10.1947".

Sau những trận chiến đấu trên mặt trận sông Lô từ đầu tháng 10.1947, tàu địch vượt qua Đoan Hùng, tiến qua Bình Ca, tiến lên đánh chiếm thị xã Tuyên Quang. Một không khí lo lắng, hốt hoảng bao trùm khắp mặt trận sông Lô. Trong lúc 2 khẩu pháo Đoan Hùng và Bình Ca đã hỏng đang được tích cực sửa chữa, chỉ còn duy nhất khẩu sơn pháo của trung đội Nguyễn Siêu Hải hoạt động.

Đến ngày 14.10.1947, đoàn tàu tiếp viện thứ hai của địch tăng cường lên Tuyên Quang, khẩu sơn pháo đặt trận địa ở Phan Dư, phía bắc Bạch Hạc chừng 4 cây số đánh trận thứ hai, bắn trên 10 phát vẫn không trúng phát nào.

"Ngày 18.10, chúng tôi đánh trận thứ ba, lần này pháo xuống thấp một chút, bố trí trận địa ở ghềnh Khoan Bộ, cự ly bắn được rút xuống khoảng 1.800 m. Trận đánh đoàn tàu tăng viện thứ ba bắn trên 10 phát đạn chỉ suýt soát nổ gần tàu địch", đại tá, nhà văn Siêu Hải nhớ lại.

Không khí nặng nề, hoang mang dao động khắp mặt trận sông Lô. Theo hồi ức của nhà văn Siêu Hải, dân chúng oán thán bộ đội: "Ai lại để nó đi lại trên sông như đi chợ thế này, chẳng thấy đánh đấm ra gì...". Còn ông Đỗ Thiện cho biết: "Tham mưu trưởng khu Vũ Hiển cử tôi xuống nắm tình hình. Nguyên nhân là do tư tưởng ngại mất pháo".

Tự kiểm điểm mình, đôi bạn đồng môn đều xác định trong đầu mình, lý thuyết "bắn cầu vồng" (tir courbe à vue) ở Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn chưa bị loại trừ. Chiến thuật "bắn cầu vồng" không hiệu quả.

Hai anh em thống nhất, phải đổi chiến thuật, đưa pháo ra sát bờ sông, cự ly gần, bắn trực tiếp (tir direct). "Tôi và Siêu Hải đến gặp Ban Chỉ huy tiểu đoàn bộ binh trao đổi, đề nghị lần này đặt pháo sát bờ sông, đợi tàu địch đến trước mặt ở cự ly 400 - 500 m mới bắn", ông Đỗ Thiện kể lại.

Đại biểu về dự kỷ niệm 50 năm chiến thắng Sông Lô (năm 1997). Từ phải sang trái: nhà văn Siêu Hải (thứ 2), nguyên Tham mưu trưởng Vũ Hiển (thứ 3), ông Đỗ Thiện (thứ 5). ẢNH: TƯ LIỆU GIA ĐÌNH ÔNG ĐỖ THIỆN
Đại biểu về dự kỷ niệm 50 năm chiến thắng Sông Lô (năm 1997). Từ phải sang trái: nhà văn Siêu Hải (thứ 2), nguyên Tham mưu trưởng Vũ Hiển (thứ 3), ông Đỗ Thiện (thứ 5). ẢNH: TƯ LIỆU GIA ĐÌNH ÔNG ĐỖ THIỆN

Quá trưa 23.10.1947, khoảng 14 giờ, hai tàu chiến LCT chở nặng chạy rất chậm chạp trên dòng nước. Đây là đoàn tàu thứ tư của địch tiến lên sông Lô. Cả bộ binh lẫn pháo binh rất bình tĩnh đợi địch đến gần trên dưới 800 m mới bắn.

Khẩu pháo bắt đầu gầm lên nhả đạn dồn dập. Tàu bốc cháy ngùn ngụt, loạng choạng một quãng ngắn, rồi đâm mũi tàu lên bãi cát. Lính địch trên tàu la hét om xòm, nhiều tên nhảy ào xuống nước, cố bơi sang bờ làng An Lão.

Hai tàu LCT của địch như hai con cá voi bị mắc cạn, đạn bắn rất trúng, mỗi lần trái pháo nổ, vỏ tàu địch lại bị phá một lỗ thủng lớn, từng mảng sắt thép tung tóe lên cao. Súng trường, súng máy của bộ binh ta cứ nhằm vào những cái đầu bù chìm nổi trên sông nhả đạn tiêu diệt.

Cuối cùng, hai xác tàu địch dúm dó chìm quá nửa dưới lòng sông. Phía thủy quân địch xác nhận, trung úy chỉ huy tử trận.

Nhớ lại chiến thắng mở màn trên sông Lô, ông Đỗ Thiện đánh giá: “Trận Khoan Bộ ngày 23.10.1947 đã thu thắng lợi lớn mở đầu cho cách đánh gần, bắn thẳng của khẩu pháo Đoan Hùng ngày 24.10.1947 và trận Khe Lau ngày 10.11.1947. Chúng tôi trưởng thành bước đầu từ đấy”.

“Trận thứ ba ngày 23.10.1947, ta bắn trúng cả hai tàu LCT của giặc, tiếc là lòng sông lúc đó đã cạn nhiều, tàu địch không chìm hẳn nên một số lính giặc lội được vào bờ làng An Lão trước mặt”, ông Đỗ Thiện từng kể.

Trường ca sông Lô và tiểu thuyết sông Lô

Một sáng chớm lạnh đầu mùa đông, Trung đội trưởng Nguyễn Siêu Hải dẫn bạn đồng môn Đỗ Thiện (cán bộ tác chiến pháo binh của Phòng Tham mưu Liên khu 10) đi nghiên cứu lại các trận đánh vừa qua của trung đội. Hai người ra tới bến Then thì gặp nhạc sĩ Văn Cao.

Đại tá, nhà văn Siêu Hải kể chuyện chiến thắng Khoan Bộ (ngày 23.10.1947). ẢNH DO TÁC GIẢ PHỤC DỰNG BẰNG AI
Đại tá, nhà văn Siêu Hải kể chuyện chiến thắng Khoan Bộ (ngày 23.10.1947). ẢNH DO TÁC GIẢ PHỤC DỰNG BẰNG AI

"Tôi reo vui và siết chặt tay nhạc sĩ" - đại tá, nhà văn Siêu Hải hồi tưởng - "Bây giờ mới gặp người nhưng từ 2 - 3 năm trước tôi đã ngân nga nhạc điệu bài Buồn tàn thu đầu tay của Văn Cao, năm 1944 lại say sưa với bài Thăng Long hành khúc ca của anh”.

Suốt ngày hôm đó, Siêu Hải dẫn nhạc sĩ Văn Cao và cán bộ tác chiến Đỗ Thiện lần lượt đi tới các trận địa chiến đấu của trung đội ở Phan Dư, ghềnh Khoan Bộ. Trước mắt họ, sông Lô trong xanh, hiền hòa.

Dọc đường đi qua các chiến trường cũ, Việt Bắc lúc này đã sạch bóng quân thù. Siêu Hải say sưa kể lại với Văn Cao những chuyện người thật, việc thật, những cảm xúc thật đã diễn ra trên mặt trận sông Lô: lúc cay đắng ngậm ngùi vì thất trận để rồi lại thăng hoa, bay bổng với những chiến công dồn dập.

Hơn 60 năm sau, nhớ lại chiến thắng mở màn, vị đại tá cao niên vẫn say sưa trong ký ức như mới hôm qua: “Lời kể tuôn trào như nước chảy pha chút sử thi lãng mạn, kèm theo những lời gửi gắm vào tài năng của nhạc sĩ, tái hiện lại sự kiện lịch sử oai hùng này. Tôi tin là anh Văn Cao đã cảm nhận thấy mong mỏi nhiệt tình của tôi là làm sao có được bản Trường ca sông Lô thật hay ngang tầm với bản nhạc sông Danube xanh bất hủ, nổi tiếng của nhạc sĩ thiên tài Johann Strauss để sông Lô mãi mãi trong xanh”.

Đôi bạn Văn Cao - Siêu Hải cùng tiểu thuyết Sông Lô. ẢNH TƯ LIỆU KMS
Đôi bạn Văn Cao - Siêu Hải cùng tiểu thuyết Sông Lô. ẢNH TƯ LIỆU KMS

Khoảng 3 tuần lễ sau chiến thắng sông Lô (tháng 10.1947), nhạc sĩ Văn Cao (1923 - 1995) cùng họa sĩ Văn Giáo (1916 - 1996 và nhà văn Trọng Hứa đến thăm trung đội sơn pháo do trung đội trưởng Nguyễn Siêu Hải chỉ huy. Cả trung đội ùa đến đón 3 vị khách, họ đứng chật kín cả mấy gian nhà của ban chỉ huy trung đội. Việc đầu tiên, nhạc sĩ Văn Cao hát cho trung đội sơn pháo nghe bản Trường ca sông Lô vừa sáng tác xong:

Sông Lô, sóng ngàn Việt Bắc, bãi dài ngô lau, núi rừng âm u

Thu ru bến sóng vàng từng nhà mờ biếc chìm một màu khói thu

Sông Lô, sóng ngàn kháng chiến cháy bờ lau thưa đã tàn thôn trang

Ai qua bến nắng hồng lặng nhìn màu nước sông Lô xưa...

Năm 1981, bản thảo của nhà văn Siêu Hải có thêm giọt nước tràn ly từ nhà văn Sơn Tùng, giúp tiểu thuyết Sông Lô (NXB Thanh Niên) ra mắt bạn đọc. Vậy là Trường ca sông Lô có tiểu thuyết Sông Lô sánh đôi như tình bạn của người chiến sĩ - nhà văn Siêu Hải và nhạc sĩ Văn Cao.

Theo Kiều Mai Sơn (TNO)

Có thể bạn quan tâm

'Bóng ma đồ độc' ám ảnh vùng cao Quảng Ngãi

'Bóng ma đồ độc' ám ảnh vùng cao Quảng Ngãi

Ở một số bản làng miền núi Quảng Ngãi, hủ tục nghi kỵ “cầm đồ thuốc độc” vẫn âm ỉ tồn tại, len vào những mâu thuẫn đời thường, những cơn bệnh chưa được lý giải bằng khoa học. Từ một lời phán của thầy cúng, hàng xóm có thể thành kẻ thù, người vô tội bị cô lập, đánh đập, thậm chí mất mạng.

Trường mới ở vùng biên

Trường mới ở vùng biên

(GLO)- Gần một tháng sau lễ khai giảng năm học 2026 - 2027, thầy và trò tại 7 trường phổ thông nội trú Tiểu học và THCS trên tuyến biên giới của tỉnh Gia Lai đang từng bước ổn định nền nếp dạy học.

Những ngày ở xứ Kim Chi: Kỳ 2: 24 giờ ở Jeonju - thủ phủ của Jeollabuk-do

Những ngày ở xứ Kim Chi: Kỳ 2: 24 giờ ở Jeonju - thủ phủ của Jeollabuk-do

(GLO)- Hai lần đổi tàu với gần 3 giờ từ Busan đưa chúng tôi đến Jeonju - thủ phủ và là thành phố cổ yên bình của tỉnh Jeollabuk-do. 24 giờ ở đây đủ để nhận ra sức hấp dẫn của một vùng đất biết giữ gìn ký ức, chăm chút từng góc phố và biến những giá trị truyền thống thành sức hút du lịch.

Đất Vua xứ Rượu…

Đất Vua xứ Rượu…

(GLO)- Những ngày đầu thu, khi cái nắng miền Trung đã bớt gay gắt, những cơn mưa bắt đầu ghé qua nhiều hơn, đất trời xứ An Nhơn cũng dịu lại. Lúc đầy lúc vơi, sông Côn vẫn lặng lẽ chảy qua những xóm làng, mang theo phù sa và câu chuyện của một vùng đất từng là kinh đô. 

Nghề xưa vẫn chảy bên dòng sông Côn

Nghề xưa vẫn chảy bên dòng sông Côn

(GLO)- Bên dòng sông Côn, đoạn chảy qua thôn Kiên Mỹ (xã Tây Sơn, tỉnh Gia Lai) từ lâu đã hình thành những xóm nghề gắn với đời sống người dân như làm đậu khuôn, giá đỗ, bún, bánh tráng, các loại bánh truyền thống, trồng rau... 

Phía sau đầu sóng Trường Sa

Phía sau đầu sóng Trường Sa

Bán đảo Cam Ranh nắng gió có một khu đô thị đặc biệt mang tên Khu đô thị Căn cứ quân sự Cam Ranh (Khánh Hòa). Sau những ô cửa bình yên nơi đây là mái ấm của các gia đình quân nhân, trong đó có những người vợ đang ngày ngày thay chồng chăm lo tổ ấm, khi các anh làm nhiệm vụ nơi đầu sóng Trường Sa.

Thầy tôi là nhà cách mạng làm thơ

Thầy tôi là nhà cách mạng làm thơ

Tôi gọi cha tôi bằng 'thầy' vì ông cụ muốn tôi nhớ lại gốc gác của mình từ một làng nào đó ở đất Nghệ An. Người Bắc hay gọi cha là thầy, mẹ là u. Bên nội tôi là người di dân, vào Quảng Ngãi từ mấy trăm năm trước.

Làng xưa nay đã đổi thay

Làng xưa nay đã đổi thay

(GLO)- Sau khi về định cư ở vùng đất mới, cuộc sống của người dân 4 làng Plei Pông, Kinh Pêng, Plei Trớ và Plei Hek thuộc xã Chư A Thai (là các làng căn cứ cách mạng trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, còn gọi là 4 làng Ðồn) đã có nhiều đổi thay rõ nét.

Mang con dấu đến bản

Mang con dấu đến bản

Hai đứa con đã 15 và 13 tuổi, nhưng lần đầu tiên, vợ chồng anh Moong Văn Phong mới đi làm khai sinh cho con khi Trung tâm Phục vụ hành chính công xã Nhôn Mai (Nghệ An) mang con dấu đến tận bản để làm thủ tục cho dân.

Những dáng lính vùng biên

Những dáng lính vùng biên

(GLO)- Tôi gặp những người lính trên những chuyến tàu tuần tra ngoài khơi xa, giữa những hải trình dọc dài duyên hải đồng hành, làm chỗ dựa bảo vệ ngư dân và giữ gìn an ninh trật tự trên biển quê hương; gặp họ giữa những vùng biên giới Campuchia heo hút đầy nắng gió.

Ruổi rong đời chăn vịt

Ruổi rong đời chăn vịt

(GLO)- Sau mỗi mùa gặt, những cánh đồng lúa ở các xã An Lương, An Hòa, An Vinh, Tuy Phước… lại rộn ràng bởi đàn vịt hàng nghìn con tìm về kiếm ăn. Gắn với đàn vịt, những người chăn vịt miệt mài rong ruổi qua nhiều cánh đồng, lấy mùa gặt làm nhịp mưu sinh.

Trầm tích sông Ba

Trầm tích sông Ba

(GLO)- Sông Ba đoạn qua xã Ia Dreh (tỉnh Gia Lai) mùa khô, vài con thuyền đánh cá nằm gối đầu nghỉ ngơi trên những doi cát. Chiều xuống, từ những bến sông, người dân vẫn ra tắm mát dù nước cạn tới mức có thể lội ra giữa dòng.

null