Kế hoạch với mục tiêu tăng cường kiểm soát các yếu tố nguy hại tại nơi làm việc, phát hiện sớm bệnh nghề nghiệp và bảo đảm người lao động được tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe.
Theo kế hoạch, tỉnh đặt mục tiêu đến năm 2030 có 80% cơ sở lao động có yếu tố có hại gây bệnh nghề nghiệp được quản lý, giám sát; 100% cán bộ làm công tác y tế lao động, giám định y khoa và quan trắc môi trường lao động được đào tạo, cấp chứng chỉ hoặc chứng nhận chuyên môn theo quy định. Đáng chú ý, 100% cơ sở lao động có sử dụng amiăng phải được kiểm tra, giám sát, quan trắc môi trường lao động hằng năm.
Tỉnh cũng phấn đấu 100% trạm y tế xã, phường được tập huấn, hướng dẫn về dịch vụ y tế lao động cơ bản; trong đó ít nhất 70% trạm y tế thực hiện lồng ghép các dịch vụ này vào hoạt động chăm sóc sức khỏe ban đầu. Đồng thời, 60% người lao động không có hợp đồng lao động trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp và làng nghề được tiếp cận thông tin, tư vấn về các yếu tố nguy cơ và biện pháp phòng, chống bệnh nghề nghiệp.
Đối với công tác chăm sóc sức khỏe tại nơi làm việc, kế hoạch đặt mục tiêu 100% người lao động được tiếp cận thông tin về phòng, chống các bệnh không lây nhiễm như tăng huyết áp, đái tháo đường, tim mạch, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, ung thư; đồng thời được hướng dẫn về dinh dưỡng hợp lý, vận động thể lực và phòng, chống tác hại của thuốc lá, rượu bia.
Tỉnh phấn đấu giảm tối thiểu 25% số vụ ngộ độc thực phẩm tập thể tại các cơ sở lao động so với giai đoạn 2020-2025; 70% cơ sở lao động có trên 200 người được hướng dẫn về dinh dưỡng phù hợp với điều kiện làm việc. Đặc biệt, 100% cơ sở sử dụng từ 1.000 lao động nữ trở lên phải bố trí phòng vắt, trữ sữa mẹ theo quy định.
Một trong những nhiệm vụ trọng tâm là tăng cường giám sát, khám phát hiện bệnh nghề nghiệp tại các ngành, nghề có nguy cơ cao như khai thác khoáng sản, sản xuất vật liệu xây dựng, khai thác và chế biến đá granite, chế biến gỗ, sản xuất có sử dụng hóa chất và dung môi hữu cơ. Đây là những lĩnh vực tiềm ẩn nguy cơ phơi nhiễm bụi, tiếng ồn, hóa chất và các yếu tố có hại khác, có thể gây ảnh hưởng lâu dài đến sức khỏe người lao động.
Theo đó, tỉnh yêu cầu 100% người lao động tại các cơ sở có nguy cơ mắc bệnh nghề nghiệp được tiếp cận thông tin về yếu tố có hại, biện pháp phòng ngừa và được khám, phát hiện sớm bệnh nghề nghiệp theo quy định vào năm 2030. Riêng người lao động tiếp xúc với amiăng phải được quản lý sức khỏe và khám bệnh nghề nghiệp hằng năm.
Kế hoạch cũng chú trọng nâng cao năng lực sơ cứu, cấp cứu, điều trị và phục hồi chức năng. Mục tiêu đặt ra là 100% người bị tai nạn lao động, mắc bệnh nghề nghiệp được sơ cứu, cấp cứu kịp thời tại nơi làm việc, được khám, điều trị, giám định y khoa và phục hồi chức năng theo quy định.
Để thực hiện các mục tiêu trên, UBND tỉnh giao Sở Y tế chủ trì, phối hợp với các sở, ngành, địa phương tổ chức triển khai; chỉ đạo Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh và trạm y tế các xã, phường tăng cường giám sát, đào tạo, tập huấn và hướng dẫn chuyên môn. Các địa phương có trách nhiệm xây dựng kế hoạch triển khai phù hợp với tình hình thực tế, đồng thời quản lý, kiểm tra việc thực hiện các quy định về an toàn, vệ sinh lao động tại các cơ sở sản xuất, kinh doanh.
Đáng chú ý, kế hoạch đặt ra yêu cầu xây dựng cơ sở dữ liệu quản lý quan trắc môi trường lao động và bệnh nghề nghiệp, tiến tới kết nối với hệ thống dữ liệu quốc gia vào năm 2030; từng bước liên thông thông tin với sổ sức khỏe điện tử của người lao động. Việc số hóa dữ liệu phải bảo đảm an toàn thông tin, bảo vệ dữ liệu cá nhân và hạn chế tình trạng yêu cầu doanh nghiệp nhập lại những dữ liệu đã được báo cáo.
UBND tỉnh đồng thời nhấn mạnh trách nhiệm của người sử dụng lao động trong việc bố trí kinh phí thực hiện quan trắc môi trường lao động, khám sức khỏe định kỳ, khám phát hiện bệnh nghề nghiệp, huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động và tổ chức sơ cứu, cấp cứu tại chỗ. Các doanh nghiệp phải chủ động cải thiện điều kiện làm việc, quản lý hồ sơ sức khỏe người lao động và thực hiện đầy đủ chế độ, chính sách đối với người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.