'Đất thép' nở hoa

Theo dõi Báo Gia Lai trên Google News

Cách trung tâm Sài Gòn hơn 50km, ở cửa ngõ phía Tây Bắc, căn cứ Đồng Dù (Củ Chi) được quân đội Sài Gòn ví như “cánh cửa thép”, phòng tuyến kiên cố ngăn cản đà tiến công như vũ bão của quân giải phóng.

Sáng 29/4/1975, thực hiện mệnh lệnh của Bộ Tư lệnh chiến dịch, Quân đoàn 3 (Binh đoàn Tây Nguyên) đã nổ súng tấn công, đập tan tuyến phòng thủ kiên cố này, giải phóng huyện Củ Chi và thẳng tiến về Sài Gòn.

5 giờ “nung chảy” cửa thép

Một ngày đầu tháng 4/2025, chúng tôi về thăm huyện Củ Chi. Sau nửa thế kỷ, “đất thép” đã thay đổi nhiều. Những mảnh vườn trái cây xanh mướt, các khu đô thị khang trang mọc lên trên vành đai năm xưa chỉ toàn cát trắng và “dây thép gai đâm nát trời chiều”.

Ông Ba Nhỏ (xe ôm, 71 tuổi, ngụ xã Tân Phú Trung, Củ Chi) xăng xái đưa tôi đi tham quan căn cứ Đồng Dù năm xưa, hiện nay đang được sử dụng làm doanh trại quân đội. Chỉ xuống rạch nhỏ bao quanh căn cứ, người cựu chiến binh đất thép Củ Chi năm xưa cho biết đó là những con kênh rất sâu, được Mỹ - ngụy cho đào để phòng thủ.

Lính Mỹ đổ bộ tấn công Củ Chi năm 1967
Lính Mỹ đổ bộ tấn công Củ Chi năm 1967

“Hồi đó, tụi tui phải vượt qua hào nước này để đánh vào Sở Chỉ huy Sư đoàn 25 Việt Nam Cộng hòa (VNCH) trong căn cứ. Nhiều anh em chìm xuống dòng kênh, vài ngày sau mới tìm thấy xác” - ông Ba Nhỏ bùi ngùi nhớ lại.

Đồng Dù là căn cứ hỗn hợp quy mô lớn, nằm trên trục Quốc lộ 1, được xây dựng bởi Sư đoàn 25 Mỹ (Tia chớp nhiệt đới). Căn cứ có chu vi khoảng 8.500m, xung quanh là vùng trắng bằng phẳng trống trải.

Để bảo vệ cơ quan đầu não ở Sài Gòn, đầu năm 1975, địch đã bố trí lực lượng phòng thủ hết sức hùng hậu trong căn cứ Đồng Dù, gồm Sư đoàn 25, Trung đoàn 50, Tiểu đoàn 2 bộ binh, 1 tiểu đoàn pháo hỗn hợp, 1 chi đoàn xe tăng,...với tổng quân số khoảng 3.000 tên, 34 xe tăng xe bọc thép...

Bên ngoài căn cứ là nhiều lớp rào kẽm gai cùng hệ thống lô cốt và các bãi mìn dày đặc. Chuẩn tướng Lý Tòng Bá - Sư đoàn trưởng Sư đoàn 25 quân đội Sài Gòn hô hào bắt lính “tử thủ” đến cùng.

Đúng 5 giờ 30 phút ngày 29/4/1975, pháo binh Sư đoàn 320 đồng loạt tiến công căn cứ Đồng Dù. Bộ binh nổ mìn định hướng và đánh bộc phá, liên tục mở bung nhiều lớp hàng rào. Địch điều động bộ binh, xe tăng ra nghênh chiến, đồng thời dùng máy bay, pháo cối đánh vào đội hình tiến công của quân giải phóng. Chiến sự diễn ra ác liệt ngay từ những phút đầu.

Sau hơn 3 giờ giao tranh, địch điều động thêm lực lượng ở Trảng Bàng (Tây Ninh) và Xóm Mới (Gia Định) đến cứu nguy cho căn cứ Đồng Dù. Nắm được ý đồ của địch, quân giải phóng đã ngăn chặn lực lượng chi viện, đập tan những ổ đề kháng trên đường tiến công.

Đến 10 giờ 30, quân giải phóng đã đánh chiếm Sở chỉ huy Sư đoàn 25 quân đội Sài Gòn. Tư lệnh Lý Tòng Bá và Ban Tham mưu bỏ trốn. Đến 11 giờ ngày 29/4/1975, sau 5 giờ chiến đấu ác liệt, cờ của quân giải phóng đã tung bay trên căn cứ Đồng Dù, “cánh cửa thép” ở cửa ngõ Tây Bắc Sài Gòn bị nung chảy.

Sơ đồ địa đạo
Sơ đồ địa đạo

“Điểm đến” du lịch

Thăm lại Địa đạo Củ Chi - Di tích lịch sử đặc biệt, chúng tôi và nhiều du khách, trong đó có cả cựu binh Mỹ được thưởng thức chương trình biểu diễn nghệ thuật thực cảnh Trăng chiến khu. Nhiều người thích thú khi xem tái hiện lại cuộc sống, sinh hoạt về đêm của người dân Củ Chi trong vùng giải phóng với những hoạt cảnh như tham gia đào địa đạo, đan lát, xay lúa, giã gạo, thanh niên đăng ký tòng quân đánh giặc, trai gái hò đối đáp trên đồng ruộng, văn công về biểu diễn phục vụ bộ đội...

Từ một biểu tượng của tinh thần bất khuất, Địa đạo Củ Chi đã trở thành địa điểm thu hút khách du lịch, góp phần phát triển kinh tế xã hội, tạo công ăn việc làm cho người dân địa phương.

Du khách thưởng thức khoai mì, món ăn đặc trưng của “dân địa đạo” năm xưa
Du khách thưởng thức khoai mì, món ăn đặc trưng của “dân địa đạo” năm xưa

Bắt đầu hình thành từ năm 1948, hệ thống địa đạo tại Củ Chi ban đầu chỉ là những hầm trú ẩn, cất giấu vũ khí của dân quân, du kích địa phương. Từ những ưu thế của các căn hầm, các làng xã tại đây đã dần nối các căn hầm với nhau bằng các đường hầm, tạo thành một hệ thống địa đạo liên hoàn, phức tạp. Trong kháng chiến chống Mỹ, hệ thống này được phát triển rộng ra nhiều nơi, với cấu trúc các đoạn hầm, địa đạo được cải tiến trở thành nơi che giấu lực lượng, khi chiến đấu có thể liên lạc, hỗ trợ nhau.

Tính tới năm 1965, quân dân Củ Chi đã đào hơn 250km đường hầm trong lòng đất, kết hợp với khoảng 500 km chiến hào, công sự trên mặt đất. Hệ thống địa đạo như một thành phố thu nhỏ trong lòng đất bao gồm các hầm ở và làm việc của lãnh đạo, hầm y tế, các hầm ăn uống, nghỉ ngơi, các khu chứa lương thực và vũ khí, giếng nước, bếp Hoàng Cầm...

Anh hùng LLVT Tô Văn Đực, người đã gắn liền với địa đạo Củ Chi trong những năm kháng chiến chống Mỹ cho biết, hệ thống địa đạo gồm 3 tầng, các đường cửa hầm xuống đường xương sống tỏa ra nhiều nhánh dài, nhánh ngắn thông với nhau. Có những nhánh trổ ra tới tận bờ sông Sài Gòn. Tầng 1 địa đạo được đào cách mặt đất 3m, có thể chống được đạn pháo và không bị sập dưới sức nặng của xe tăng, xe bọc thép. Tầng 2 cách mặt đất 5m, có thể chống được bom cỡ nhỏ, còn tầng dưới cùng cách mặt đất 8 - 10m có thể chống lại các loại bom cỡ lớn.

“Các đường hầm ngầm sâu dưới đất được đào với chiều cao chỉ đủ cho những người nhỏ con đi lom khom nên quân Mỹ to lớn không thể chui lọt. Địch đã mở rất nhiều cuộc ném bom, càn quét quy mô lớn và kéo dài vào hệ thống địa đạo bằng đủ phương tiện như bom, bơm nước vào địa đạo, bơm hơi ngạt, tấn công bộ binh... nhưng đều bị đẩy lùi. Thậm chí, địch còn sử dụng chó đánh hơi, bơm nước sông vào hệ thống hầm ngầm song hệ thống địa đạo vẫn đứng vững.

Du khách xuống hầm tham quan địa đạo
Du khách xuống hầm tham quan địa đạo

Sự thông minh sáng tạo, ý chí kiên cường, bất khuất của người dân đất thép Củ Chi không chỉ tạo nên nhiều chiến thắng vẻ vang trong công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, để lại một di tích lịch sử cho các thế hệ sau mà hằng năm còn thu hút cả triệu du khách đến với Củ Chi, phát triển ngành công nghiệp không khói.

Ông Nguyễn Minh Tâm, Phó giám đốc Khu di tích lịch sử địa đạo Củ Chi cho biết nơi đây đang lưu giữ quá khứ để phục vụ công tác giáo dục lòng yêu nước cho các thế hệ trẻ. Rất nhiều du khách tìm đến đây để tận mắt chứng kiến những kỳ tích sáng tạo có một không hai và trải nghiệm cuộc sống dưới địa đạo như những cư dân thực thụ trước đây.

Theo thống kê của khu Di tích đền Bến Dược, suốt cuộc kháng chiến, quân Mỹ đã thực hiện hơn 5.000 cuộc hành quân càn quét vùng địa đạo Củ Chi, với khoảng 500.000 tấn bom đạn đã được thả tại đây. Trung bình mỗi người dân ở đây phải hứng chịu khoảng 1,5 tấn bom và 480 tấn chất độc hóa học nhưng địa đạo Củ Chi vẫn đứng vững.

(Còn nữa)

Theo Huy Thịnh - Trọng Thịnh (TPO)

Có thể bạn quan tâm

Về lại ga xép

Về lại ga xép

Tôi đã cố cưỡng lại sự mời gọi của chuyến food tour (du lịch ẩm thực) tại trung tâm thành phố Hải Phòng (cũ) để xuống tàu sớm hơn ba ga.

Viết lại đời mình bằng việc tử tế

Viết lại đời mình bằng việc tử tế

(GLO)- Ít ai biết, sau dáng vẻ điềm đạm, ít nói của người đàn ông đã bước qua tuổi lục tuần - Kpă Dõ, Trưởng ban Công tác Mặt trận làng Lê Ngol (xã Bờ Ngoong) - là một quá khứ nhiều day dứt. Hai mươi lăm năm trước, vì nhẹ dạ và thiếu hiểu biết, ông bị lôi kéo vào con đường lầm lỡ.

Ngày mới bên sông Pô Cô

E-magazine Ngày mới bên sông Pô Cô

(GLO)- Sớm mai ở Ia Krái, dòng Pô Cô uốn lượn như dải lụa bạc giữa mênh mông cây cối. Nước sông lăn tăn, gợn sóng nhỏ vỗ vào bãi cát vàng, len qua vườn rẫy, tạo thành một bản hòa ca của thiên nhiên và con người.

Giữ cây thuốc quý giữa đại ngàn An Toàn

Giữ cây thuốc quý giữa đại ngàn An Toàn

(GLO)- Tự xa xưa người Bahnar ở đại ngàn An Toàn (tỉnh Gia Lai) đã biết sử dụng nhiều loài cây rừng để làm thuốc chữa bệnh. Kinh nghiệm được chắt lọc qua nhiều thế hệ, không chỉ chăm sóc sức khỏe cộng đồng mà còn thể hiện sự am hiểu sâu sắc về tự nhiên, góp phần gìn giữ giá trị y học dân gian.

Xây dựng thế trận lòng dân nơi tà đạo "Hà Mòn" đi qua - Kỳ cuối: Xây dựng thế trận lòng dân- tường lửa ngăn tà đạo

E-magazine Xây dựng thế trận lòng dân nơi tà đạo "Hà Mòn" đi qua - Kỳ cuối: Xây dựng thế trận lòng dân- tường lửa ngăn tà đạo

(GLO)- Ba đối tượng cốt cán cuối cùng của tà đạo “Hà Mòn” bị bắt giữ tại khu vực núi Jơ Mông (giáp ranh xã Hra và xã Lơ Pang) vào ngày 19-3-2020 đã đánh dấu bước ngoặt quan trọng, khép lại hành trình đấu tranh kéo dài hơn một thập kỷ.

'Sói biển' Lý Sơn và hành trình nối biển ra Hoàng Sa

'Sói biển' Lý Sơn và hành trình nối biển ra Hoàng Sa

Ở đặc khu Lý Sơn (Quảng Ngãi), lão ngư Dương Minh Thạnh được nhiều ngư dân gọi là “lão ngư Hoàng Sa” bởi có công “nối biển” Lý Sơn ra quần đảo Hoàng Sa. Ông còn được mệnh danh là “sói biển” Lý Sơn, bởi sức vươn khơi dẻo dai, từng 5 lần thoát chết thần kỳ giữa bão biển.

Xây dựng thế trận lòng dân nơi tà đạo "Hà Mòn" đi qua - Kỳ 3: Gieo lại niềm tin trên đất cũ

E-magazine Xây dựng thế trận lòng dân nơi tà đạo "Hà Mòn" đi qua - Kỳ 3: Gieo lại niềm tin trên đất cũ

(GLO)- Khi tà đạo “Hà Mòn” tan biến, trên những buôn làng ở xã Hra, xã Đak Pơ, niềm tin làm giàu đang được gieo lại từ chính mảnh đất cũ. Nhờ sự vào cuộc của cấp ủy, chính quyền, lực lượng chức năng cùng ý chí vươn lên của người dân, những vùng đất này đang chuyển mình mạnh mẽ. 

Xây thế trận lòng dân từ sâu rễ bền gốc nơi tà đạo Hà Mòn đi qua

E-magazine Xây dựng thế trận lòng dân nơi tà đạo Hà Mòn đi qua - Kỳ 2: Tỉnh ngộ sau chuỗi ngày tối tăm

(GLO)- Phía sau những lời hứa hẹn mơ hồ về một cuộc sống sung túc không cần lao động. Ở một số buôn làng, những mái nhà vốn yên ấm bị xáo trộn. Chỉ khi cấp ủy, chính quyền, lực lượng chức năng kiên trì vận động, nhiều người mới dần nhận ra sự thật, tỉnh ngộ và quay về với cuộc sống bình thường.

Làng bồng bềnh trên dòng Pô Kô

Làng bồng bềnh trên dòng Pô Kô

Giữa miền biên viễn phía tây Gia Lai, trên dòng Pô Kô hùng vĩ, hàng chục gia đình từ Tây Nam bộ tìm đến lập nghiệp, dựng nên những căn nhà nổi chông chênh giữa sóng nước. Cuộc mưu sinh lặng lẽ thể hiện nghị lực của con người, ý chí bám trụ và khát vọng sống chan hòa cùng sông nước.

Bấp bênh xóm chài vùng biên

Bấp bênh xóm chài vùng biên

(GLO)- Xóm chài trên mặt hồ thủy điện Sê San (làng Tăng, xã Ia O) hiện có 17 hộ với 58 nhân khẩu, đến từ các tỉnh ở miền Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ. Không đất ở, thiếu giấy tờ tùy thân, họ tự dựng nhà bè, bám lấy con nước để mưu sinh.

null