Chiều 30-10, tiếp tục chương trình kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI, dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Hồng, Quốc hội thảo luận tại hội trường về tình hình thực hiện Kế hoạch phát triển KT-XH năm 2026 và dự kiến kế hoạch phát triển KT-XH năm 2027; tình hình thực hiện ngân sách Nhà nước năm 2026, dự toán ngân sách Nhà nước, phương án phân bổ ngân sách trung ương năm 2027; tình hình thực hiện kế hoạch đầu tư công năm 2026 và dự kiến kế hoạch đầu tư công năm 2027; quyết toán ngân sách nhà nước năm 2025…
Tham gia thảo luận, đánh giá bối cảnh kinh tế vĩ mô trong năm đầu thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, với GDP 9 tháng tăng 9,01%, xuất khẩu tăng 24,5%, đại biểu (ĐB) Lê Hoàng Anh đặt vấn đề: “Lấy vốn dài hạn ở đâu để đi được dài?”.
Theo đại biểu, nền kinh tế hiện vẫn phụ thuộc lớn vào tín dụng ngân hàng, với dư nợ tương đương khoảng 155% GDP. Trong khi đó, gần 80% vốn huy động có kỳ hạn dưới 12 tháng, nhưng một nửa dư nợ tín dụng lại là các khoản vay trung và dài hạn.
Đại biểu cũng chỉ ra nghịch lý khi tiền gửi dân cư vượt 11,2 triệu tỷ đồng, người dân nắm giữ khoảng 500 tấn vàng, tương đương khoảng 12% GDP, nhưng quy mô thị trường trái phiếu doanh nghiệp mới đạt 11% GDP, chưa đạt mục tiêu 20% vào năm 2025.
“Cái thiếu không phải là vốn, mà là đường dẫn vốn” - ĐB Hoàng Anh nhấn mạnh.
Việc thiếu các kênh dẫn vốn trong nước khiến nhiều doanh nghiệp công nghệ Việt Nam phải thành lập công ty mẹ ở nước ngoài để huy động vốn, dẫn đến giá trị gia tăng và quyền quyết định bị ghi nhận ở nước ngoài.
Theo ĐB Hoàng Anh, doanh nghiệp đi ra không phải chủ yếu vì thuế. Chính sách cho doanh nghiệp trích tới 20% thu nhập tính thuế vào Quỹ phát triển khoa học và công nghệ được dự tính làm giảm thu ngân sách khoảng 70.500 tỷ đồng mỗi năm, nhưng năm 2026 ước thực tế chỉ khoảng 5.300 tỷ. Khi thuế tối thiểu toàn cầu đã áp dụng, dư địa ưu đãi thuế gần như khép lại. Từ nay, cạnh tranh là cạnh tranh về thể chế pháp luật.
ĐB Lê Hoàng Anh khẳng định: “Vốn dài hạn chỉ đi theo niềm tin dài hạn và niềm tin ấy trước hết là niềm tin vào pháp luật”. Việc sửa đổi luật khẩn trương vừa qua, gắn với tổng rà soát hơn 45 nghìn văn bản là cần thiết; Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã khẳng định điểm nghẽn về thể chế cơ bản đã được tháo gỡ. Nhưng nhiều doanh nghiệp vẫn chưa dám tin rằng luật vừa ban hành sẽ đứng yên đủ lâu để họ dựa vào mà tính chuyện mười năm.
Vì vậy, trước hết cần bảo đảm điều kiện nền: sự ổn định và tiên liệu được của pháp luật. Đúng như tinh thần Nghị quyết số 66-NQ/TW (về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới) và Nghị quyết số 68-NQ/TW (về phát triển kinh tế tư nhân), chính sách phải được đánh giá tác động thực chất, có lộ trình chuyển tiếp, không hồi tố bất lợi cho doanh nghiệp.
Luật khung giúp điều hành linh hoạt; nhưng khung càng rộng thì quyền cơ bản của doanh nghiệp càng phải được ghi rõ trong luật, bởi doanh nghiệp chỉ yên tâm khi quyền của họ nằm trong luật, chứ không nằm trong hướng dẫn có thể thay đổi thường xuyên. Luật ban hành nhanh để tháo gỡ; luật ổn định mới giữ được vốn.
Trên cơ sở đó, đại biểu đề xuất 3 hướng giải pháp chiến lược nhằm mở rộng các kênh dẫn vốn, khơi thông nguồn lực trong nước.
Thứ nhất, cho vay dựa trên dữ liệu dòng tiền. Cụ thể hóa Nghị quyết số 68-NQ/TW, cho phép các ngân hàng sử dụng dữ liệu hóa đơn điện tử, dữ liệu thuế, xuất nhập khẩu để đánh giá năng lực tài chính, khả năng trả nợ của doanh nghiệp, thay vì chủ yếu dựa vào tài sản thế chấp là đất đai.
Thứ hai, giữ vốn chủ sở hữu trong nước. Đại biểu đề nghị sớm ban hành cơ chế để các công ty holding tại Trung tâm Tài chính quốc tế theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 của Quốc hội có thể đầu tư thông suốt về trong nước; hỗ trợ doanh nghiệp đưa công ty mẹ từ nước ngoài về Việt Nam với chi phí thuế hợp lý; đồng thời vận hành thực chất Quỹ đầu tư mạo hiểm quốc gia.
Thứ ba, kết nối nguồn tiết kiệm trong dân cư với nhu cầu vốn của doanh nghiệp thông qua phát triển quỹ hưu trí tự nguyện, quỹ mở và nghiên cứu thí điểm chứng chỉ vàng; đồng thời bổ sung chỉ tiêu theo dõi quy mô trái phiếu doanh nghiệp trên GDP để có cơ sở đánh giá sự phát triển của thị trường vốn.
“Tăng trưởng hai con số bắt đầu từ quyết tâm, nhưng chỉ bền vững khi được nuôi bằng vốn dài hạn và niềm tin dài hạn. Doanh nghiệp của người Việt, vốn của người Việt, thì giá trị gia tăng phải ở lại Việt Nam” - ĐB Hoàng Anh nhấn mạnh.