Xem triển lãm gốm gặp Tây Nguyên

Theo dõi Báo Gia Lai trên Google News

(GLO)- Tôi vừa có chuyến công tác tại tỉnh Ninh Thuận và may mắn được tham quan triển lãm gốm cổ rất lớn ở Trung tâm Nghiên cứu Văn hóa Chăm (Sở Văn hóa-Thể thao và Du lịch Ninh Thuận). Anh Lê Xuân Lợi, bạn đồng môn, giờ làm Giám đốc ở đây, trực tiếp là người thuyết minh cho tôi. Tham quan triển lãm, tôi thấy có một mối liên hệ khắng khít giữa người Tây Nguyên và người Kinh, người Chăm từ nhiều thế kỷ trước.



Lâu nay vẫn biết, người Tây Nguyên rất tài ở nhiều việc, như làm nhà rông đồ sộ nguy nga thế, được giới mỹ thuật và kiến trúc sư hiện đại bây giờ công nhận là đạt tỷ lệ vàng của kiến trúc, mà chỉ là bằng dao rựa và rìu, bởi những nghệ nhân có khi chưa ra khỏi làng bao giờ và tất nhiên chả biết tính toán gì. Thế mà nó đẹp, nó bền vững, nó trải năm trải tháng, vừa ngạo nghễ vừa trữ tình, vừa cao vút vừa mềm mại... và trở thành một công trình nghệ thuật hết sức tuyệt vời, chứ không chỉ là cái nhà rông thông thường. Như cồng chiêng ấy, người Tây Nguyên không làm ra nó, họ đi đổi, mua về, nhưng rồi cồng chiêng trở thành đặc trưng của Tây Nguyên, hay nói cách khác, phải vào tay người Tây Nguyên, chiêng mới đúng là... chiêng.

 Khách tham quan triển lãm “Gốm Chăm xưa và nay” tại tỉnh Ninh Thuận. Ảnh: V.C.H
Khách tham quan triển lãm “Gốm Chăm xưa và nay” tại tỉnh Ninh Thuận. Ảnh: V.C.H



Thì xem triển lãm gốm này, gặp những cái ghè rượu vừa cổ vừa quý, lại thấy vai trò lưu giữ của người Tây Nguyên quan trọng đến mức nào.

Thì cũng như chiêng, người Tây Nguyên không làm ra ché/ghè, nhưng món rượu ghè của họ thì không cần đóng dấu bảo hành, cũng chả ai dám nhận là của mình. Tài ở chỗ, ngoài dùng ghè/ché để làm/đựng rượu, người Tây Nguyên còn... định giá ghè. Ta đã từng nghe có những cái ghè đổi hàng chục trâu, thậm chí trâu trắng. Có những cái ghè thiêng, có thể dự báo nhiều việc của buôn làng, có những cái ghè tối cổ, không thể định giá cũng như khó xác định niên đại...

Đối với việc làm gốm của người Chăm, đây là công việc đã có từ lâu đời, đã trở thành nghệ thuật; thừa hưởng và phát triển từ dòng gốm Sa Huỳnh, giao lưu ảnh hưởng kỹ thuật nguyên liệu của các nước lân cận thậm chí của các nước Trung Đông. Nổi bật nhất trong dòng gốm Chăm xưa là gốm Chăm gò sành (Bình Định từ thế kỷ XII kéo dài đến thế kỷ XVII) gốm Quảng Đức (thế kỷ XVII-XVIII) và Châu Ô (thế kỷ XVIII-XIX). Hiện nay, người Chăm chỉ còn 2 làng nghề gốm tồn tại, đó là gốm Bàu Trúc (tỉnh Ninh Thuận) và gốm Bình Đức (tỉnh Bình Thuận), trong đó, Bàu Trúc được biết đến là một trong những làng gốm với kỹ thuật từ xa xưa.

Gốm Chăm gò sành có nguồn gốc tại Bình Định, mà thời kỳ phát triển rực rỡ là khoảng thế kỷ XII-XV, là loại gốm chuyên dùng cho vua chúa, già làng, tù trưởng vùng Trường Sơn Tây Nguyên, cũng là sản phẩm để giao lưu, xuất khẩu sang các nước trong khu vực… Dòng gốm này rất đa dạng về thể loại từ các ché, hũ, chén, bát, bình rượu, bình tỳ bà để trang trí... Đặc trưng của gốm là kỹ thuật tráng men. Nghệ nhân khi đã tạo xương gốm bằng đất sét đem nung lần đầu, sau đó lấy ra tráng men và nung tiếp một lần nữa mới hoàn chỉnh sản phẩm.

Khi gốm gò sành tàn lụi, dòng gốm Quảng Đức ở Phú Yên xuất hiện. Ông tổ nghề gốm tại đây lại là người Bình Định di cư vào nên dòng gốm này ảnh hưởng rất nhiều dòng gốm gò sành. Gốm Quảng Đức được làm từ đất sét ở vùng An Định, Tuy An. Nghệ nhân nặn gốm với sự hỗ trợ của bàn xoay, men gốm được nấu với vỏ sò ở vùng đầm Ô Loan, củi đốt là cây bằng lăng lấy từ vùng núi Đồng Xuân nên tạo ra một màu sắc rất đặc trưng của dòng gốm này. Gốm Quảng Đức đã có tuổi đời hơn 300 năm. Tại triển lãm, tôi thấy có trưng bày một số bình, hũ, ché, thuộc dòng Quảng Đức tiêu biểu.

Dòng gốm Châu Ô, Quảng Ngãi ra đời từ khoảng thế kỷ XVIII- XIX. Gốm Châu Ô cũng được làm từ đất sét trong vùng, gốm được tạo dáng trên bàn xoay, kỹ thuật tạo hoa văn bằng cách đắp nổi và sản phẩm cuối cùng được nung trong lò nung hình hộp. Các sản phẩm của dòng gốm này rất đa dạng các loại như: bình trà, bình rượu, bình hồ lô và đặc biệt là các loại ché sử dụng rất nhiều ở vùng Tây Nguyên.

Nói thật là xuống làng cũng nhiều, uống rượu cần cũng lắm, xem rất kỹ bảo tàng của Tòa Giám mục Kon Tum mà tôi đánh giá là một trong những bảo tàng kỹ càng nhất về văn hóa Tây Nguyên hiện nay, nhưng ở triển lãm này, tôi mới thấy nhiều loại ghè rất lạ, độc đáo rất... Tây Nguyên. Ví như ghè có minh họa cảnh người Tây Nguyên phát-đốt-trọc-trỉa, ghè minh họa cảnh săn bắn, hay ghè hình rồng...

Và mới thấy, có một sự liên quan mật thiết giữa miền xuôi và miền ngược, giữa biển với rừng, giữa Kinh, Chăm và các dân tộc Tây Nguyên. Mới thấy thấm hơn câu ca dao “Ai về nhắn với nậu nguồn/Măng le gửi xuống cá chuồn gửi lên”... Và như tôi đã từng đề cập trong một bài viết trên báo Gia Lai, bên cạnh sự phát triển và quan hệ chiều dọc từ Mục Nam Quan tới mũi Cà Mau, chúng ta còn những quan hệ, phát triển trục ngang, việc này rõ rệt nhất ở miền Trung giữa những cư dân Trường Sơn Tây Nguyên với cư dân ven biển mà việc cư dân Trường Sơn Tây Nguyên sử dụng ghè là minh chứng rõ rệt nhất.

 

Văn Công Hùng

Có thể bạn quan tâm

Thơ Nguyễn Ngọc Phú: Tấm áo Điện Biên

Thơ Nguyễn Ngọc Phú: Tấm áo Điện Biên

(GLO)- Tấm áo trấn thủ đã trở thành biểu tượng gắn liền với người chiến sĩ Điện Biên trong suốt 56 ngày, đêm "đánh lấn từng thước đất". Ngắm nhìn tấm áo ấy được trưng bày trong bảo tàng, tác giả Nguyễn Ngọc Phú bồi hồi, tưởng như được sống lại phút giây chiến đấu hào hùng của cha anh.
Thơ Hà Hoài Phương: Tự khúc

Thơ Hà Hoài Phương: Tự khúc

(GLO)- "Tự khúc" của tác giả Hà Hoài Phương là những chiêm nghiệm rất thực về cuộc đời. Sau cơn mưa trời lại sáng, không có điều gì tồn tại mãi, dù đó có là những niềm vui, hạnh phúc hay khổ đau...
Xếp sách nghệ thuật

Xếp sách nghệ thuật

(GLO)- Như một kiến trúc sư với nguyên vật liệu là sách, các nhân viên Thư viện tỉnh Gia Lai đã dày công sáng tạo và mô phỏng thành công nhiều công trình văn hóa-lịch sử đẹp mắt nhằm nâng cao hiệu quả tuyên truyền về văn hóa đọc.
Thơ Ngô Thanh Vân: Vào hội

Thơ Ngô Thanh Vân: Vào hội

(GLO)- Đất trời Tây Nguyên trong bung biêng thanh âm cồng chiêng, men cay rượu cần nồng nàn, vấn vít, nhịp xoang quyến luyến, tay nắm tay chẳng rời... được nhà thơ Ngô Thanh Vân một lần nữa nhắc đến trong bài thơ "Vào hội".

Nhà báo-nhà văn Nguyễn Hoàng Thu: Cả đời gắn bó với Tây Nguyên

Nhà báo-nhà văn Nguyễn Hoàng Thu: Cả đời gắn bó với Tây Nguyên

(GLO)- Tôi bước vào nghề báo thì gặp anh Nguyễn Hoàng Thu. Bấy giờ, anh cũng mới vào Báo Thanh Niên, thường trú ở Tây Nguyên. Lúc này, anh còn độc thân, sống ở Buôn Ma Thuột. Anh hơn tôi đến chục tuổi, thường đội chiếc mũ beret màu đen trông rất lãng tử, nhưng tính tình khá trẻ trung và cá tính.

Thơ Phạm Đức Long: Mây trắng trời quê

Thơ Phạm Đức Long: Mây trắng trời quê

(GLO)- Biết bao nhiêu người đã ngã xuống, đổi máu xương cho đất nước, quê hương thanh bình. Thương xót và biết ơn, những dòng thơ của nhà thơ Phạm Đức Long cũng trở nên da diết: "Xin người hóa núi hóa sông/Ngàn năm mây trắng phiêu bồng bóng quê!"...

Ông Siu Phơ (bìa phải) thực hiện nghi lễ cúng với sự hỗ trợ của ông Rah Lan Hieo. Ảnh: Vũ Chi

Phú Thiện: Khai mạc lễ hội cầu mưa Yang Pơtao Apui

(GLO)- Sáng 30-4, tại Khu Di tích lịch sử-văn hóa cấp quốc gia Plei Ơi (xã Ayun Hạ, huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai), UBND huyện Phú Thiện khai mạc lễ hội cầu mưa Yang Pơ tao Apui và Hội thi văn hóa thể thao các dân tộc thiểu số lần thứ XV năm 2024.
Thơ Lữ Hồng: Cho người ở lại

Thơ Lữ Hồng: Cho người ở lại

(GLO)- Chúng ta đều yêu Pleiku nhưng không phải ai cũng chọn ở lại và gắn bó. Một lúc nào đó, vào chặng cuối cuộc đời, người Pleiku tha hương mới dâng đầy nỗi nhớ. Bài thơ của Lữ Hồng ngỡ là lời của một người ra đi gửi cho người ở lại, mà cũng có thể là lời của người ở lại gửi cho chính mình...