Sông Gianh mùa chạp mả

Theo dõi Báo Gia Lai trên Google News
Chạp mả theo tiếng vùng Quảng Trạch, Ba Đồn (Quảng Bình) là tảo mộ. Từ mùng 1 đến 31 tháng Chạp mỗi năm, toàn bộ các làng trong 2 huyện, thị xã này tổ chức chạp mả. Tết con cháu ở xa có thể không về, nhưng chạp mả thì phải thu xếp về, bởi đó là đạo hiếu mà tổ tiên đã dặn dò mấy trăm năm nay.
Làng nào cũng biện cỗ mùa chạp mả vào cuối năm ở Ba Đồn và Quảng Trạch
Làng nào cũng biện cỗ mùa chạp mả vào cuối năm ở Ba Đồn và Quảng Trạch
Tưởng nhớ tiền nhân
Sông Gianh, đoạn chảy qua huyện Quảng Trạch và thị xã Ba Đồn có lưu vực nở bung thành đồng bằng dưới rặng Hoành Sơn. Nơi châu thổ dòng sông này có hơn 300 làng xóm quây quần từ rất xa xưa. Nếu tính tháng Chạp có 30 ngày (có năm 31 ngày) thì trung bình mỗi ngày ở vùng đất ấy có hơn 10 làng tổ chức chạp mả. Điều đặc biệt là làng nào cũng nhất tề hương khói đủ đầy.
Ông Hòa ở tít xã Quảng Hợp (Quảng Trạch) kể: “Chạp mả làng nào ở đây cũng có 2 ngày, ngày đầu tổ chức chạp mả họ hàng, ông tổ của làng, của dòng tộc. Ngày sau tổ chức trong gia đình. Con em ở xa đi về, xóm trên lối dưới hỏi chào cuộc sống, mừng nhau có thêm cháu nhỏ ríu rít mà lòng dạ ai cũng hớn hở”.
Ba Đồn và Quảng Trạch xưa vốn là một địa giới hành chính, sau này Ba Đồn tách thành thị xã, nhưng lễ tục truyền đời thì không thể phôi phai. Người ở thị xã Ba Đồn vẫn giữ chặt cái gốc văn hóa chạp mả một cách kính lễ, hiếu nghĩa với tiền nhân cha ông. Cả hai vùng đất này mỗi làng có nghi thức chạp mả riêng theo địa lý, thổ nhưỡng, sông nước… Có làng ngày đầu chạp mả cho thành hoàng bổn thổ, có làng chạp mả cho các vị tổ khai canh, có làng chạp mả cho nữ nhi dựng làng từ hàng trăm năm trước. Ấy là nữ thành hoàng ở làng Phù Lưu (xã Quảng Lưu, huyện Quảng Trạch). Ngôi làng có nữ khai canh Nguyễn Thị Quý Ba từ Hà Nam vào khai khẩn xóm thôn lúc quân Nguyên Mông xâm lược. Bà nghe lời vua Trần vào trấn ở phía Nam Hoành Sơn, tại Bắc sông Gianh, lúc 42 tuổi. Với nghề trồng dâu nuôi tằm, mở thêm đất mới, động viên người dân đoàn kết, sau vài năm, bà xây dựng một vùng dân cư trù phú rộng lớn, mọi người tôn bà thành Chủ Quản. Ngày 15 tháng Chạp năm 1336 bà qua đời, vua Trần Hiển Tông thấy bà công lớn đã sắc phong cho bà. Từ đó, cứ đến ngày 15 tháng Chạp hàng năm, người làng lại tảo mộ bà bằng lễ vật làm được từ làng để không quên công khai phá mảnh làng ấy cho đến ngày nay.
 Con cháu tề tựu bên tổ tiên
Con cháu tề tựu bên tổ tiên
Mùa chạp bên bờ biển Đông
Thôn Thanh Bình (xã Quảng Xuân, huyện Quảng Trạch) neo mình bên rú cát của bờ biển Đông. Chạp mả của làng tiến hành vào 2 ngày 17 và 18 tháng Chạp. Ngày đầu, làng tổ chức mổ heo theo từng họ để rước linh 12 vị tổ khai canh của 12 họ hàng bản quán từ hơn 350 năm trước. Ông Phạm Đồng, một dân làng, kể: “Lệ xưa truyền dạy, sáng ngày 17 đàn ông dậy lúc 3 giờ sáng để mổ heo, tự sắp hoa quả; đàn bà không được đụng tay vào bất cứ việc gì, mọi việc phải do đàn ông sắp đặt. Họ từng tốp í ới gọi nhau trong dòng tộc ra mộ tổ bên rú cát gần sóng biển thắp hương khấn vái. Lễ khấn không xin cho riêng mình mà xin mưa thuận gió hòa, làm ăn cần cù, lao động có sức khỏe, con cháu khỏe khoắn, để giữ làng, giữ mả, giữ lệ ước cha ông để lại”. Xong việc mả họ, cụ ông trưởng họ cắt từng miếng thịt mời các thành viên trong họ. Người nào vắng mặt đột xuất sẽ được cất riêng một miếng vừa mỡ vừa nạc cùng chút muối sống để nhận về dùng sau.
Hết chạp mả họ, từng nhánh dòng tộc dắt nhau về phía biển, khấn vái biển Đông. Các dòng họ của làng xướng lên rằng: “Mong cho Đại Hải (biển lớn) làm binh giặc không xâm chiếm được bản quán dân quê. Giặc giã phương nào đến cũng bị sóng thần đánh chìm, bị sóng nước thổi bay, bị dân làng chống trả phải lui về xấu hổ. Mong cho biển thần cưu mang ngư phủ sức khỏe kiếm ăn, có sức nuôi con, chống giặc khi khốn, lao động khi khoan, mong thần biển mẹ đất phù hộ”.
Phía làng biển Cảnh Dương lại khấn cúng cá voi với hò vè rằng: “Rằng năm quốc thứ Mậu Thân/ Trời sinh thánh thượng Duy Tân trị vì/ Hà Thanh hải yến bốn bề/ Ngư ông thượng thọ thác về cõi tiên/ Lênh đênh mặt nước dạo miền/Tìm nơi đất tốt dân hiền ghé vô/ Cảnh Dương vui thú hải hồ/ Sở vọng trông thấy, rước vô lạch nhà/ Tưng bừng nổi trống phèng la/ Nghe tin làng nước gần xa vui lòng/ Tức thì nắm vía bắt đồng/ Con quan Tuần Vũ vốn dòng nữ nhi/ Hình dung yểu điệu phương phi/ Mày tằm mắt phượng có bề thanh tâm/ Cúng cho non nước sâm cầm/ Cúng cho Ngài biết dân làng tri ân”.
Chạp mả trong dân
Sông Gianh đoạn trước phà Phù Trịch có làng Lũ Phong (xã Quảng Phong). Sinh thời, nhà Quảng Bình học, cụ Nguyễn Tú nói với tôi rất nhiều về ngôi làng này. Làng ngoài tảo mộ ông bà, tổ tiên, dòng tộc khai canh và thành hoàng làng thì những bậc tiền nhân xưa còn cho làm mộ gió với các chữ: Thần, Dân, Văn, Võ, Lễ để con cháu khói hương mùa chạp mả. Trên đình thờ, 5 chữ linh thiêng ấy được khắc trang trọng. Những người già nhất làng Lũ Phong truyền lại cho con cháu rằng: “Mộ Thần sẽ được thần phù hộ, mộ Dân sẽ được dân hỗ trợ, mộ Văn để hiểu dân, mộ Võ để giữ làng, giữ đất, bảo vệ dân, mộ Lễ để không quên gốc mình từ dân”.
Tiên sinh Nguyễn Tú từng luận bàn rằng: “Lập mộ cho chữ, thờ chữ nó thể hiện chí khí người Lũ Phong với trách nhiệm trước làng nước. Người làng ở đây tự hào, thờ chữ cùng tổ tiên ông bà, ngày tảo mộ thì đến khu đất cao đốt chữ của những người viết giỏi để nhớ gốc của ta có Dân, có Thần, để biết làng nước được giữ bằng sức của Võ và Lễ. Người làng ấy biết không phải cứ dùng Võ là giữ được làng, mà phải dùng cả Lễ mới giữ được làng, vì trong Lễ có cả trọng đạo, đầy đủ mềm dẻo của sự đời dâu bể, trong Lễ còn có lễ với dân mới được dân tin, dân theo”.
Trên mô đất cao của cánh đồng làng cạnh sông Gianh, cỏ mọc xanh rì những ngày cuối năm. Nơi đó mỗi năm mùa lễ chạp, những người chữ đẹp được chọn ra viết trên giấy tốt về tiền nhân, về lễ, về võ, về thần rồi đốt nén hương thơm nâng chữ thành đạo, thành linh nghiệm, thề giữ hiếu kính với mọi thứ cho con cháu có phúc để giữ làng.
Mỗi năm, tháng Chạp lại nhớ nhung con cháu về quê hương bản quán. Như một lễ hội kéo dài xuyên tháng, nhưng trong lòng người nó dài mãi bất tận. Một lễ hội dân gian độc đáo đã mấy trăm năm trường tồn dưới rặng Hoành Sơn của châu thổ sông Gianh. Ai đến lễ cũng trịnh trọng tưởng nhớ tổ tiên, tiền nhân. Tôi trong dòng người trở về của mùa chạp mả năm nay thấy thật ấm lòng bởi làng nào, nhà nào, người nào cũng một lòng với bản quán quê hương.
MINH PHONG (sggp)

Có thể bạn quan tâm

Những ngày ở xứ Kim Chi: Kỳ 2: 24 giờ ở Jeonju - thủ phủ của Jeollabuk-do

Những ngày ở xứ Kim Chi: Kỳ 2: 24 giờ ở Jeonju - thủ phủ của Jeollabuk-do

(GLO)- Hai lần đổi tàu với gần 3 giờ từ Busan đưa chúng tôi đến Jeonju - thủ phủ và là thành phố cổ yên bình của tỉnh Jeollabuk-do. 24 giờ ở đây đủ để nhận ra sức hấp dẫn của một vùng đất biết giữ gìn ký ức, chăm chút từng góc phố và biến những giá trị truyền thống thành sức hút du lịch.

Đất Vua xứ Rượu…

Đất Vua xứ Rượu…

(GLO)- Những ngày đầu thu, khi cái nắng miền Trung đã bớt gay gắt, những cơn mưa bắt đầu ghé qua nhiều hơn, đất trời xứ An Nhơn cũng dịu lại. Lúc đầy lúc vơi, sông Côn vẫn lặng lẽ chảy qua những xóm làng, mang theo phù sa và câu chuyện của một vùng đất từng là kinh đô. 

Món quà nhỏ nối dài lòng tốt

Món quà nhỏ nối dài lòng tốt

Mỗi lần nấu cơm cho gia đình, chị Trương Thị Phượng lại chuẩn bị thêm một, hai suất. Hôm nay, trong những chiếc hộp được xếp ngay ngắn là cơm trắng, khoai tây xào, gà xào và canh nóng. Chị chụp lại phần cơm, đăng lên nhóm “Cho tặng đồ miễn phí tại Hà Nội”, rồi chờ người cần đến nhận.

Nghề xưa vẫn chảy bên dòng sông Côn

Nghề xưa vẫn chảy bên dòng sông Côn

(GLO)- Bên dòng sông Côn, đoạn chảy qua thôn Kiên Mỹ (xã Tây Sơn, tỉnh Gia Lai) từ lâu đã hình thành những xóm nghề gắn với đời sống người dân như làm đậu khuôn, giá đỗ, bún, bánh tráng, các loại bánh truyền thống, trồng rau... 

Phía sau đầu sóng Trường Sa

Phía sau đầu sóng Trường Sa

Bán đảo Cam Ranh nắng gió có một khu đô thị đặc biệt mang tên Khu đô thị Căn cứ quân sự Cam Ranh (Khánh Hòa). Sau những ô cửa bình yên nơi đây là mái ấm của các gia đình quân nhân, trong đó có những người vợ đang ngày ngày thay chồng chăm lo tổ ấm, khi các anh làm nhiệm vụ nơi đầu sóng Trường Sa.

Thầy tôi là nhà cách mạng làm thơ

Thầy tôi là nhà cách mạng làm thơ

Tôi gọi cha tôi bằng 'thầy' vì ông cụ muốn tôi nhớ lại gốc gác của mình từ một làng nào đó ở đất Nghệ An. Người Bắc hay gọi cha là thầy, mẹ là u. Bên nội tôi là người di dân, vào Quảng Ngãi từ mấy trăm năm trước.

Lưu giữ ký ức thời hoa lửa bằng công nghệ

Lưu giữ ký ức thời hoa lửa bằng công nghệ

(GLO)- Chiến tranh đã lùi xa hơn nửa thế kỷ. Những người trực tiếp đi qua những năm tháng khốc liệt ấy, nay đều đã ở tuổi xế chiều. Nhưng thời gian không chờ đợi ai. Khi những nhân chứng dần vắng bóng, cũng là lúc nhiều mảnh ghép ký ức về lịch sử dân tộc không còn cơ hội được kể lại.

Lộ Diêu vươn mình từ gian khó

Lộ Diêu vươn mình từ gian khó

(GLO)- Trước đây, Lộ Diêu (phường Hoài Nhơn Đông) như một thế giới tách biệt với bên ngoài. Ðặc trưng địa hình và cuộc sống của người dân nơi đây được đúc kết qua câu: “Lộ Diêu một biển ba đèo - Gian nan đã vượt, khó nghèo đã qua”.

Những dáng lính vùng biên

Những dáng lính vùng biên

(GLO)- Tôi gặp những người lính trên những chuyến tàu tuần tra ngoài khơi xa, giữa những hải trình dọc dài duyên hải đồng hành, làm chỗ dựa bảo vệ ngư dân và giữ gìn an ninh trật tự trên biển quê hương; gặp họ giữa những vùng biên giới Campuchia heo hút đầy nắng gió.

Ruổi rong đời chăn vịt

Ruổi rong đời chăn vịt

(GLO)- Sau mỗi mùa gặt, những cánh đồng lúa ở các xã An Lương, An Hòa, An Vinh, Tuy Phước… lại rộn ràng bởi đàn vịt hàng nghìn con tìm về kiếm ăn. Gắn với đàn vịt, những người chăn vịt miệt mài rong ruổi qua nhiều cánh đồng, lấy mùa gặt làm nhịp mưu sinh.

Trầm tích sông Ba

Trầm tích sông Ba

(GLO)- Sông Ba đoạn qua xã Ia Dreh (tỉnh Gia Lai) mùa khô, vài con thuyền đánh cá nằm gối đầu nghỉ ngơi trên những doi cát. Chiều xuống, từ những bến sông, người dân vẫn ra tắm mát dù nước cạn tới mức có thể lội ra giữa dòng.

null