Người viết sử Sư đoàn 2

Theo dõi Báo Gia Lai trên Google News

(GLO)- Hơn 20 năm tham gia chiến đấu, ông Lê Minh Tân (tổ 15, phường An Phú, thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai) có nhiều kỷ niệm không quên về một thời gắn bó với Sư đoàn Bộ binh 2 (Quân khu 5). Từ những trải nghiệm thực tế của một người lính, ông đã dành nhiều công sức và tâm huyết để tái hiện những trang sử vẻ vang của Sư đoàn.
 

Ký ức thời hoa lửa

Ông Lê Minh Tân sinh năm 1950 ở xã Hoằng Hợp, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Chưa đầy 18 tuổi, cậu học trò hiếu học xứ Thanh phải gác mộng đèn sách để lên đường ra mặt trận. Sau 3 tháng huấn luyện và ngần ấy thời gian hành quân vào Nam, đến tháng 7-1968, chiến sĩ thông tin vô tuyến điện Lê Minh Tân được biên chế về Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 1, Sư đoàn Bộ binh 2.

Ông Tân cho hay: Ban đầu, ông thuộc biên chế Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 1, Sư đoàn 338 (Quân khu 4). Sau thời gian huấn luyện, đơn vị của ông được lệnh vào miền Nam với phiên hiệu mới là Đoàn 2033. Tuy nhiên, do Quân khu 5 đang thiếu quân nên Tư lệnh Quân khu khi đó là Thiếu tướng Chu Huy Mân đề nghị Bộ Quốc phòng cho toàn bộ quân số Đoàn 2033 nhập vào Trung đoàn 1 (Sư đoàn Bộ binh 2). “Cuộc đời tôi gắn bó với Sư đoàn 2, với Tây Nguyên từ đó”-ông Tân nói.

 Ông Lê Minh Tân (bìa trái) cùng đồng đội đọc những trang sử hào hùng. Ảnh: Ngọc Minh
Ông Lê Minh Tân (bìa trái) cùng đồng đội đọc những trang sử hào hùng. Ảnh: Ngọc Minh


Hơn 50 năm đã trôi qua nhưng trong tâm trí cựu chiến binh Lê Minh Tân, ký ức về những ngày tham gia chiến đấu vẫn còn sống động và tươi mới. Ông kể: “Sau khi củng cố lực lượng, Sư đoàn mở chiến dịch X2 ở Tam Kỳ, Quảng Nam. Mặc dù hạn chế về vũ khí, trang bị nhưng nhờ dũng cảm, mưu trí, quân ta đã tiêu diệt Chi đoàn 14 ngụy và đánh thiệt hại nặng Thiết đoàn 11 Mỹ với tổng cộng 60 chiếc xe tăng. Kết thúc chiến dịch với chiến thắng giòn giã, vào ngày 7-8-1968, tôi vinh dự được kết nạp vào Đảng”.

Vinh dự, tự hào được đứng vào hàng ngũ của Đảng, ông Tân luôn nhắc nhở bản thân không ngừng học tập, rèn luyện, nêu cao quyết tâm hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Đầu năm 1970, Sư đoàn Bộ binh 2 mở chiến dịch ở Hiệp Đức, Quế Sơn (Quảng Nam). Đơn vị của ông được phân công vây đánh Tiểu đoàn 4, Sư đoàn 2 ngụy. Lúc này, ông Tân là Tiểu đội phó Tiểu đội Vô tuyến (Tiểu đoàn 3).

Xuất kích cùng chỉ huy Tiểu đoàn và chiến sĩ trinh sát tiến về quả đồi nơi quân địch chiếm giữ, khi vừa đến khoảng trống lưng chừng đồi thì quân ta bị đại liên của địch bắn xối xả làm 4 cán bộ, chiến sĩ đi trước hy sinh, ông Tân bị thương ở tay. Chỉ huy hy sinh, đơn vị như “rắn không đầu” nhưng nhớ lời dạy của Bác: “Bảo đảm công tác thông tin liên lạc kịp thời, chính xác, bí mật, an toàn”, ông Tân nén cơn đau kịp thời liên lạc báo cáo tình hình với lãnh đạo cấp trên, đồng thời truyền lệnh cấp trên xuống để lực lượng của ta tác chiến linh hoạt, tiêu diệt địch.

Trong Chiến dịch Xuân Hè năm 1972, Sư đoàn Bộ binh 2 tập trung tấn công căn cứ Tân Cảnh của Sư đoàn 22 Bộ binh ngụy và quận lỵ Đak Tô (tỉnh Kon Tum). Chiến sự diễn ra ác liệt, ông Tân bị 1 mảnh rốc két văng trúng đầu. Mặc cho máu chảy đầm đìa, ông vẫn giữ chắc máy móc đảm bảo thông tin thông suốt.

Ngoài những chiến thắng trên, từ năm 1971 đến 1975, ông Tân cùng cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn Bộ binh 2 tham gia nhiều chiến dịch và giành nhiều chiến công như đánh bại cuộc hành quân “Lam Sơn 719” của Mỹ-ngụy, góp phần đánh bại chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”; tiêu diệt Trung đoàn 1, làm thiệt hại nặng Trung đoàn 2 ngụy, diệt gọn 1 tiểu đoàn ngụy Lào, 1 đại đội lính đánh thuê Thái Lan giúp Lào giải phóng cao nguyên Bolaven, thị trấn Păk Xoòng; giải phóng Cảng Sa Huỳnh… góp phần vào chiến thắng vĩ đại mùa xuân năm 1975. Từ năm 1978 đến 1988, ông Tân tham gia làm nhiệm vụ quốc tế ở Campuchia và trải qua nhiều vị trí công tác tại Sư đoàn Bộ binh 2 cho đến khi nghỉ hưu năm 1990.

Dành tâm huyết viết sử Sư đoàn

Vốn là người thích ghi chép, rồi trải qua nhiều vị trí công tác, ông Tân được tiếp cận nhiều nguồn tư liệu của đơn vị, của cấp trên cũng như những người đi trước. Ông cũng được bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng viết sử, viết văn, viết báo. Vì vậy, Sư đoàn đã tin tưởng giao nhiệm vụ cho ông và 2 người nữa chịu trách nhiệm biên soạn, viết lịch sử cho đơn vị.

Ban đầu, ông Tân nghĩ viết sử đơn giản, chỉ cần ghi chép, kết nối các sự kiện lại với nhau là được. “Nhưng khi bắt tay vào việc, tôi mới thấy phức tạp, đòi hỏi người viết sử phải vừa biết bao quát, hài hòa, vừa theo quy tắc đã định trước”-ông Tân chia sẻ.

Những cuốn lịch sử của các đơn vị quân đội do ông Lê Minh Tân viết. Ảnh: Ngọc Minh
Những cuốn lịch sử của các đơn vị quân đội do ông Lê Minh Tân tham gia viết. Ảnh: Ngọc Minh

Thượng tá Đoàn Đức Khánh-Phó Chủ nhiệm Chính trị Sư đoàn Bộ binh 2: Những cống hiến của cựu chiến binh Lê Minh Tân đối với Sư đoàn là rất lớn. Trong giai đoạn cầm súng chiến đấu, ông đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Mặc dù gặp rất nhiều khó khăn, nhưng với tâm huyết, trách nhiệm, ông Tân đã tỉ mẩn, kỳ công thu thập thông tin, tham khảo các bài viết, sách báo rồi tổng hợp viết thành cuốn lịch sử Sư đoàn. Cuốn sử là tư liệu quý giá có nhiều tác dụng cho thế hệ cán bộ Sư đoàn làm tài liệu để tuyên truyền, giáo dục cho lớp lớp cán bộ, chiến sĩ về sau này.

Mặc dù được Sư đoàn tạo điều kiện nhưng từ năm 1977 đến 1979, Ban viết sử mới hoàn thành bản thảo lần 1. Là người chịu trách nhiệm chính, ông không những phải nghiên cứu nhiều tư liệu lịch sử, sưu tầm sách báo, tạp chí mà còn đi thực địa để lấy thông tin.

“Như hồi Trung đoàn tham gia chiến đấu ở Mộ Đức (tỉnh Quảng Ngãi), khi tới nơi, tất cả cán bộ, chiến sĩ được cán bộ địa phương phát cho 1 mảnh giấy ghi khẩu hiệu “Hy sinh vì Tổ quốc, quyết giải phóng Mộ Đức” để gắn trên mũ. Khi đưa chi tiết trên vào sử sách buộc tôi phải tìm cho kỳ được cơ quan nào đưa ra chủ trương này. Sau 1 tháng lặn lội tìm kiếm, tôi mới biết đây là một trong những tiêu đề Nghị quyết của Tỉnh ủy Quảng Ngãi.

Rồi viết đến đoạn trận đánh ở thị xã Kon Tum, tôi bí thông tin không biết viết sao nên đành gác lại. Sau 1 tuần tìm tòi tài liệu, tôi bắt gặp bài “Bày mưu cho một trận đánh” của Thượng tướng-Giáo sư Hoàng Minh Thảo-nguyên Tư lệnh Mặt trận B3, trực tiếp chỉ huy Chiến dịch Xuân Hè năm 1972, in trên tạp chí Quốc phòng. Bài viết có đề cập đến trận đánh ở thị xã Kon Tum đã giúp tôi có đầy đủ thông tin để viết tiếp”-cựu chiến binh Lê Minh Tân chia sẻ khó khăn khi viết sử.

Bản thảo vừa xong cũng là thời điểm xảy ra chiến tranh biên giới Tây Nam, việc viết sử phải tạm hoãn, Sư đoàn Bộ binh 2 được lệnh điều quân sang Campuchia làm nhiệm vụ quốc tế. Đầu năm 1989, khi tình hình yên ổn, Sư đoàn lại giao ông Tân hoàn thành việc viết sử. Lúc này, Ban viết sử chỉ còn một mình ông Tân do 1 người chuyển công tác, 1 người mất do đau bệnh.

Không ngại khó, ngại khổ, ông ngày đêm rà soát hàng trăm trang bản thảo, chỉnh sửa, bổ sung nhiều nội dung cho đến khi hoàn chỉnh. Sau đó, Sư đoàn và Quân khu 5 đứng ra chủ trì hội thảo. Đến cuối năm 1989, cuốn Lịch sử Sư đoàn Bộ binh 2 (Quân khu 5) tập 1, giai đoạn 1965-1975 chính thức được phát hành.

Ngoài ra, ông Tân còn viết lịch sử cho Trung đoàn 1 (Trung đoàn Ba Gia), Lữ đoàn Pháo binh 368, Trung đoàn 38 (Sư đoàn Bộ binh 2), Trường Thiếu sinh quân Quân khu 5…

 

NGỌC MINH

Có thể bạn quan tâm

Về lại ga xép

Về lại ga xép

Tôi đã cố cưỡng lại sự mời gọi của chuyến food tour (du lịch ẩm thực) tại trung tâm thành phố Hải Phòng (cũ) để xuống tàu sớm hơn ba ga.

Ngày mới bên sông Pô Cô

E-magazine Ngày mới bên sông Pô Cô

(GLO)- Sớm mai ở Ia Krái, dòng Pô Cô uốn lượn như dải lụa bạc giữa mênh mông cây cối. Nước sông lăn tăn, gợn sóng nhỏ vỗ vào bãi cát vàng, len qua vườn rẫy, tạo thành một bản hòa ca của thiên nhiên và con người.

Giữ cây thuốc quý giữa đại ngàn An Toàn

Giữ cây thuốc quý giữa đại ngàn An Toàn

(GLO)- Tự xa xưa người Bahnar ở đại ngàn An Toàn (tỉnh Gia Lai) đã biết sử dụng nhiều loài cây rừng để làm thuốc chữa bệnh. Kinh nghiệm được chắt lọc qua nhiều thế hệ, không chỉ chăm sóc sức khỏe cộng đồng mà còn thể hiện sự am hiểu sâu sắc về tự nhiên, góp phần gìn giữ giá trị y học dân gian.

Xây dựng thế trận lòng dân nơi tà đạo "Hà Mòn" đi qua - Kỳ cuối: Xây dựng thế trận lòng dân- tường lửa ngăn tà đạo

E-magazine Xây dựng thế trận lòng dân nơi tà đạo "Hà Mòn" đi qua - Kỳ cuối: Xây dựng thế trận lòng dân- tường lửa ngăn tà đạo

(GLO)- Ba đối tượng cốt cán cuối cùng của tà đạo “Hà Mòn” bị bắt giữ tại khu vực núi Jơ Mông (giáp ranh xã Hra và xã Lơ Pang) vào ngày 19-3-2020 đã đánh dấu bước ngoặt quan trọng, khép lại hành trình đấu tranh kéo dài hơn một thập kỷ.

'Sói biển' Lý Sơn và hành trình nối biển ra Hoàng Sa

'Sói biển' Lý Sơn và hành trình nối biển ra Hoàng Sa

Ở đặc khu Lý Sơn (Quảng Ngãi), lão ngư Dương Minh Thạnh được nhiều ngư dân gọi là “lão ngư Hoàng Sa” bởi có công “nối biển” Lý Sơn ra quần đảo Hoàng Sa. Ông còn được mệnh danh là “sói biển” Lý Sơn, bởi sức vươn khơi dẻo dai, từng 5 lần thoát chết thần kỳ giữa bão biển.

Xây dựng thế trận lòng dân nơi tà đạo "Hà Mòn" đi qua - Kỳ 3: Gieo lại niềm tin trên đất cũ

E-magazine Xây dựng thế trận lòng dân nơi tà đạo "Hà Mòn" đi qua - Kỳ 3: Gieo lại niềm tin trên đất cũ

(GLO)- Khi tà đạo “Hà Mòn” tan biến, trên những buôn làng ở xã Hra, xã Đak Pơ, niềm tin làm giàu đang được gieo lại từ chính mảnh đất cũ. Nhờ sự vào cuộc của cấp ủy, chính quyền, lực lượng chức năng cùng ý chí vươn lên của người dân, những vùng đất này đang chuyển mình mạnh mẽ. 

Những chuyện tình xuyên biên giới ở Ia O

Những chuyện tình xuyên biên giới ở Ia O

(GLO)- Trên vùng biên Ia O (tỉnh Gia Lai), dòng Pô Cô vừa là ranh giới tự nhiên, vừa là nhịp cầu kết nối lương duyên. Từ những lần qua lại thăm thân, dự lễ hội, nhiều mối tình nảy nở, hình thành nên những mái ấm xuyên biên giới bình dị, bền bỉ, góp phần dệt nên diện mạo riêng nơi phên giậu Tổ quốc.

Làng bồng bềnh trên dòng Pô Kô

Làng bồng bềnh trên dòng Pô Kô

Giữa miền biên viễn phía tây Gia Lai, trên dòng Pô Kô hùng vĩ, hàng chục gia đình từ Tây Nam bộ tìm đến lập nghiệp, dựng nên những căn nhà nổi chông chênh giữa sóng nước. Cuộc mưu sinh lặng lẽ thể hiện nghị lực của con người, ý chí bám trụ và khát vọng sống chan hòa cùng sông nước.

Bấp bênh xóm chài vùng biên

Bấp bênh xóm chài vùng biên

(GLO)- Xóm chài trên mặt hồ thủy điện Sê San (làng Tăng, xã Ia O) hiện có 17 hộ với 58 nhân khẩu, đến từ các tỉnh ở miền Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ. Không đất ở, thiếu giấy tờ tùy thân, họ tự dựng nhà bè, bám lấy con nước để mưu sinh.

null