Sự kiên cường, chịu khó như những hạt giống gieo xuống miền đất lành, bám rễ sâu vào vùng đất mới để cho ra những “quả ngọt”. Trong câu chuyện của họ, “đất lạ” đã dần được cảm hóa khi được khoác lên tấm áo mới đầy sức sống. Vùng đất dần “thay da đổi thịt” nhờ có hướng đi phù hợp.
“Quả ngọt” mà ông Đinh Văn Tài (thôn Đà Bắc, xã Ia Lâu) nhận về chính là sự đổi thay của vùng đất xưa. Dù nay đã ngoài 70 tuổi nhưng ông vẫn nhớ như in ngày 50 hộ người Mường từ tỉnh Hòa Bình (cũ) vào Ia Lâu lập nghiệp. Ngày đó, chính quyền địa phương và người dân tín nhiệm bầu ông làm Chủ tịch Hội Nông dân xã và Trưởng thôn Đà Bắc. Với trách nhiệm của mình, ông động viên mọi người cố gắng, chịu khó khai hoang, bám trụ, cùng tìm cách để khắc phục những khó khăn, trở ngại.
“Bước ngoặt lớn là khi có chủ trương chính quyền hỗ trợ giống cây trồng, vật nuôi và mở lớp khuyến nông, chuyển giao khoa học kỹ thuật. Từ đó, tạo ra sức bật lớn để người dân mở rộng đất sản xuất, trồng bắp lai, trồng mì và lúa nước. Cùng với đó, việc cơ giới hóa trong sản xuất đã đưa nền nông nghiệp của địa phương ngày một phát triển” - ông Tài kể.
Tiếp lời ông Tài, ông Bùi Văn Tụy (ở cùng thôn) cũng cho rằng, những đổi thay của vùng kinh tế mới hôm nay có vai trò rất lớn từ sự lãnh đạo của cấp ủy, chính quyền địa phương trong việc định hướng sản xuất, đầu tư hạ tầng và đồng hành cùng người dân vượt khó.
Ông Tụy chia sẻ: “Cán bộ địa phương thường xuyên vận động, hướng dẫn bà con áp dụng khoa học kỹ thuật, cơ giới hóa trong sản xuất. Hiện gia đình tôi có 4 ha lúa nước 2 vụ, 1 ha chanh dây và hơn 6 sào điều. Sau khi trừ chi phí, mỗi năm thu nhập trên 300 triệu đồng. Không chỉ đầu tư phát triển sản xuất, tôi còn mua máy cày, máy gặt liên hợp, máy cuộn rơm để phục vụ sản xuất…”.
Không giấu được xúc động khi nhìn lại chặng đường đã qua, bà Đinh Thị Xiển - Bí thư Chi bộ kiêm Trưởng thôn Đà Bắc - nhận định: Hiện người dân trong thôn chủ yếu phát triển các loại cây trồng như lúa nước, mì, bắp, điều, chanh dây… Nhiều hộ đã mạnh dạn đầu tư mở rộng sản xuất, cho thu nhập 300-600 triệu đồng/năm.
Năm 1979, khi xã Ia Blang (nay là xã Chư Sê) được thành lập, ông Hoàng Phước Bính được tín nhiệm bầu giữ chức Phó Chủ tịch UBND xã phụ trách lĩnh vực nông nghiệp. Ông Bính cùng hàng trăm hộ dân tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là TP. Huế) đi xây dựng vùng kinh tế mới tại xã Ia Blang (cũ). Ngày ấy, phần lớn người dân chủ yếu trồng lúa rẫy, mì và các loại cây ngắn ngày nên hiệu quả kinh tế thấp, đói nghèo luôn thường trực.
Trong giai đoạn 1979-1980, xã Ia Blang đã phát huy vai trò "hạt nhân" chính trị ở cơ sở, vận động người dân đoàn kết, bám đất, bám làng; đồng thời huy động hàng nghìn ngày công lao động để khai hoang, làm thủy lợi, mở rộng ruộng nước, đưa các loại cây trồng như khoai mì, khoai lang, đậu đỗ, đậu phộng… vào sản xuất.
Dấu ấn nổi bật của cấp ủy, chính quyền Ia Blang chính là sự nhạy bén trong chuyển dịch cơ cấu cây trồng, tìm ra hướng đi phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng của địa phương.
Trong giai đoạn khó khăn, xã đã đưa giống khoai lang từ Huế vào trồng trên những vùng đồi phủ đầy cây dã quỳ, cây cộng sản. Khoai lang nhanh chóng thích nghi, trở thành nguồn lương thực quan trọng, giúp người dân vượt qua thời kỳ thiếu đói. Với những kết quả nổi bật trong phát triển nông nghiệp, địa phương đã được Hội đồng Bộ trưởng tặng Bằng khen năm 1980.
Đặc biệt, sau công cuộc đổi mới năm 1986, cấp ủy, chính quyền xã tiếp tục đẩy mạnh chuyển đổi cơ cấu cây trồng, đưa các loại cây có giá trị kinh tế cao như cà phê, đặc biệt là giống hồ tiêu Lộc Ninh vào canh tác. Nhờ phù hợp với khí hậu, thổ nhưỡng địa phương, cây hồ tiêu phát triển mạnh, trở thành cây trồng chủ lực, tạo động lực để vùng kinh tế mới Ia Blang bứt phá mạnh mẽ trong những năm 2000.
Từ những người tiên phong vỡ đất, đến nay nhiều người trong số họ trở thành tỷ phú trên quê hương mới.
Xuất phát điểm là nông dân nghèo khó nhưng với đức tính cần cù cùng với khát vọng làm giàu, vươn lên bằng chính nghị lực của mình, những “tỷ phú chân đất” ấy đang từng bước ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất để tạo hướng đi bền vững trong phát triển nông nghiệp ở Gia Lai.
Ông Nguyễn Trọng Dũng (thôn Vinh Hà, xã Chư Sê) từng là một trong những người trồng hồ tiêu có tiếng ở Chư Sê. Có thời điểm, mỗi năm, gia đình ông thu được gần 40 tấn hồ tiêu khô trên diện tích 7 ha. Sau cơn “bạo bệnh” của cây hồ tiêu, năm 2019, ông Dũng đã nhanh chóng chuyển sang trồng sầu riêng.
“Rút kinh nghiệm từ cây hồ tiêu, khi chuyển sang trồng sầu riêng, tôi chọn canh tác theo hướng hữu cơ bền vững. Bên cạnh ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất, tôi đã đi khắp nơi (trong đó có vựa trái cây ở miền Tây) để học hỏi kinh nghiệm trồng, chăm sóc cây sầu riêng. Nhờ vậy, vườn sầu riêng của gia đình tôi sinh trưởng, phát triển rất tốt, cho năng suất cao” - ông Dũng cho biết.
Mỗi vụ, vườn sầu riêng của ông thu được 60-70 tấn quả, sau khi trừ chi phí ông thu lãi khoảng 4-5 tỷ đồng. Có được thành quả này, theo ông Dũng, ngoài sự kiên trì, chịu khó thì bản thân người làm nông nghiệp phải không ngừng học hỏi, cập nhật những kiến thức mới. Làm nông nghiệp sạch không những bảo vệ sức khỏe bản thân mà còn bảo vệ môi trường, sức khỏe cho người tiêu dùng.
Nhiều năm liền, ông Dũng được Hội Nông dân Việt Nam, Chủ tịch UBND tỉnh tặng Bằng khen vì có thành tích trong phong trào “Nông dân thi đua sản xuất, kinh doanh giỏi, đoàn kết giúp nhau làm giàu và giảm nghèo bền vững”.
Tương tự, ông Nguyễn Thiện Huấn (thôn Hòa Lộc, xã Chư Pưh) vào vùng đất mới lập nghiệp từ năm 1980. Với đức tính cần cù, chịu khó của người con cố đô Huế, từng tấc đất khô cằn đã được ông Huấn và gia đình khai hoang, cải tạo trồng cây cà phê, hồ tiêu, cây ăn quả. Nhờ áp dụng tốt khoa học kỹ thuật, mỗi năm gia đình ông thu về trên dưới 1 tỷ đồng.
Khi được người dân trong vùng gọi là “tỷ phú chân đất”, ông Phan Văn Chạo (thôn 2, xã Chư Păh) chỉ cười hiền khiêm tốn. Là người có niềm đam mê với cây cà phê, ông Chạo luôn tìm tòi, học hỏi và áp dụng các phương thức sản xuất tiên tiến nhất nên vườn cây của gia đình luôn xanh tốt và cho năng suất cao nhất vùng.
Ông kể: “Ngoài các lớp tập huấn ở địa phương, tôi còn đi tham quan, học hỏi kinh nghiệm của một số trang trại cà phê ở tỉnh Đắk Lắk. Sau những chuyến đi, tôi nhận ra giống cà phê mình đang trồng đã cũ, không cho năng suất cao. Cùng với đó, phải biết áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất”.
Quả nhiên, những năm sau, khi được tái canh và có phương pháp chăm sóc tiên tiến hơn, vườn cà phê của gia đình ông đã cho năng suất cao hơn. Đến năm 2007, ông mở rộng diện tích lên 6 ha và xen canh các loại cây ăn quả như sầu riêng, bơ, chôm chôm… Với mô hình này, gia đình ông thu về trên 1 tỷ đồng/năm.
Dù nay đã ở tuổi 60 nhưng ông Chạo không ngừng đổi mới, theo kịp thời đại công nghệ số. Hòa nhịp cùng nền nông nghiệp xanh, ông Chạo kiên trì canh tác theo hướng hữu cơ.
“Canh tác nông nghiệp theo phương pháp thuận tự nhiên sẽ mang đến nhiều nguồn thực phẩm xanh, sạch, lành tính, mở ra hướng phát triển nông nghiệp bền vững, lâu dài cho địa phương” - ông Chạo khẳng định.