Theo tiếng gọi của Đảng và Nhà nước, hàng ngàn người dân tại các tỉnh phía Bắc và miền Trung hăng hái lên đường đi xây dựng vùng kinh tế mới ở Tây Nguyên nói chung và Gia Lai nói riêng. Với họ, những nhát cuốc, đường cày là sự khởi đầu của một hành trình mới đầy cam go nhưng cũng tràn đầy niềm tin và hy vọng.
Năm 1977, ông Lê Phước Tuấn (thôn Vinh Hà, xã Chư Sê) vừa ngoài 20 tuổi. Ông cùng hơn 100 thanh niên nhiệt huyết của xã Vinh Hà (tỉnh Thừa Thiên Huế; nay là TP. Huế) hăng hái lên đường, mang theo khát vọng dựng xây một cuộc sống mới giữa đại ngàn Tây Nguyên.
Ông Tuấn kể lại: “Vượt qua những cách trở về đường sá, đoàn chúng tôi đã đặt chân đến trung tâm Chư Sê ngày nay. Sau đó, chúng tôi di chuyển theo con đường đất đỏ chật hẹp và phải mất hơn nửa ngày di chuyển mới đến được vùng đất mới (điểm 5, thuộc huyện Chư Prông cũ)”.
Do chưa quen với điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng nên năng suất, hiệu quả sản xuất không cao, thường xuyên mất mùa. Cuộc sống những năm đầu của ông Tuấn và mọi người thiếu thốn đủ bề, từ nước sinh hoạt, lương thực đến đường sá đi lại. Nhiều người không trụ lại được phải quay về quê cũ.
Thấu hiểu những trở ngại ấy, chính quyền địa phương lúc bấy giờ đã tập trung quy hoạch khu dân cư, phân chia đất sản xuất cho dân. Cùng với đó, Đoàn thanh niên, Hội phụ nữ, dân quân… hỗ trợ người dân khai hoang, dựng nhà, ổn định đời sống ban đầu.
“Những khó khăn về thiếu điện, đường sá, nước… dần được tháo gỡ nhờ sự lãnh đạo, chỉ đạo xuyên suốt. Sự lãnh đạo của Đảng và sự vào cuộc của hệ thống chính trị là điểm tựa để người dân chúng tôi vững tin bám đất, mở lối dựng làng trên vùng đất mới” - ông Tuấn khẳng định.
Hành trình khai hoang, vỡ đất thấm đẫm mồ hôi và nước mắt vẫn khắc sâu trong tâm trí ông Phan Văn Chạo (thôn 2, xã Chư Păh). Khoảnh khắc lần đầu tiên đặt chân lên vùng đất Gia Lai rộng lớn khiến ông vỡ òa cảm xúc. Phóng tầm mắt nhìn về phía bạt ngàn đồi núi, ông Chạo khấp khởi vui mừng vì sẽ thỏa sức với đam mê nông nghiệp của mình trên vùng đất rộng lớn này. Ông Chạo chỉ về phía cuối vườn và kể về hành trình những ngày đêm miệt mài lật từng thớ đất, đào từng gốc cây dại để có mặt bằng sản xuất.
Ông Chạo kể lại: “Sau khi rời quân ngũ, quê nhà Hải Dương “đất chật người đông” không thể giúp tôi hiện thực hóa giấc mơ về nông nghiệp. Vậy là tôi quyết định lên với Gia Lai. Đó là một buổi chiều tà, đôi chân tôi run run khi đứng trên mảnh đất rộng lớn”.
Hành trang của ông Chạo lúc ấy là tinh thần, ý chí và sự giúp đỡ từ chính quyền địa phương. “Mồ hôi, nước mắt và cả máu thấm xuống từng thớ đất nhưng tôi không hề nản bởi ý chí sắt đá được tôi luyện trong quân ngũ. Ngày vác cuốc, mang rựa đi làm, mặt trời lặn thì vào chòi rẫy thắp đèn dầu, hoạch định kế hoạch sắp tới. Sau gần 6 tháng sau, tôi bắt đầu hình thành được 1 ha đất bằng phẳng, tơi xốp. Từ 1 ha đất này và kiến thức ít ỏi học hỏi được về kỹ thuật trồng cà phê, tôi bắt đầu xuống giống những gốc cà phê đầu tiên” - ông Chạo cho biết.
Khi cây cà phê bén rễ, vươn chồi xanh tốt, ông Chạo mừng rỡ vì biết rằng đây chính là vùng đất phù hợp để phát triển các loại cây nông nghiệp. Đúng với ước mơ và dự tính của mình, ông tiếp tục mở rộng diện tích đất trồng và quyết định chọn vùng đất này để gắn bó suốt cuộc đời mình. Nghĩ vậy, năm 1995, ông quay trở về quê nhà Hải Dương đón vợ và các con vào với Gia Lai. Niềm vui đoàn tụ ở nơi chính bàn tay mình khai hoang, vỡ đất khiến ông Chạo mừng mừng, tủi tủi.
Câu chuyện vỡ đất đầy gian khó của những người con Tây Sơn (tỉnh Bình Định cũ) ở vùng căn cứ cách mạng Đak Sơmei đến nay vẫn còn được nhắc nhớ. Sau ngày giải phóng, theo tiếng gọi của Đảng, Nhà nước, người dân các xã Tây Vinh, Tây Bình, Tây An (huyện Tây Sơn cũ) đã chọn Đak Sơmei làm quê hương thứ hai.
Dù lường trước những khó khăn nhưng khi đặt chân đến vùng đất mới, mọi người không khỏi ngỡ ngàng bởi xung quanh toàn núi rừng, giao thông chia cắt, điện đường không có, đặc biệt là nạn sốt rét hoành hành.
Theo ông Thứa, từ những cây ngắn ngày như mì, bắp, khoai lang… để đảm bảo lương thực, sau khi được sự đồng hành, hỗ trợ từ cấp ủy, chính quyền địa phương, bà con dần chuyển sang trồng các loại cây công nghiệp dài ngày như: cà phê, hồ tiêu, cây ăn quả… Những cây trồng có giá trị kinh tế cao giúp các hộ dân đến từ vùng đất Tây Sơn có cuộc sống khấm khá hơn.
Những ngày đầu mùa khô Tây Nguyên cách đây gần 35 năm, bà Bùi Thị Tinh (dân tộc Mường) cùng hàng chục người dân từ tỉnh Hòa Bình cũ lên vùng biên giới (thôn Đà Bắc, xã Ia Lâu) lập nghiệp. Họ đến vùng đất này theo diện kinh tế mới và mang theo hy vọng về một cuộc sống ổn định, đủ đầy nơi đại ngàn Tây Nguyên.
“Sau khi được chính quyền địa phương tạo điều kiện hỗ trợ đất ở, đất sản xuất, nhà ở tạm… chúng tôi bắt tay vào việc sản xuất, phát triển kinh tế. Thế nhưng, dưới cái nắng đổ lửa của mùa khô Tây Nguyên, những cánh rừng khộp trơ trụi lá, nguồn nước tưới khan hiếm khiến cây cối khô khốc, kém phát triển” - bà Tinh hồi tưởng.
Khi ấy, gia đình bà và một số hộ khác có lúc nản chí muốn quay về quê cũ sinh sống. Nhưng rồi nhận thấy đất đai ở đây rộng lớn và màu mỡ, họ vẫn quyết định bám trụ. Họ bảo ban nhau tập trung chuyên canh lúa nước và tiếp tục khai hoang, mở rộng thêm đất sản xuất, áp dụng khoa học kỹ thuật để nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế.
Đi qua những ngày gian khó, cuộc sống ở quê hương thứ hai của ông Thứa, bà Tinh và cộng đồng dân cư cũng dần trở nên khấm khá hơn khi nhận được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và các cấp, ngành trong tỉnh về hạ tầng giao thông, thủy lợi, hỗ trợ đất ở, đất sản xuất cũng như cây, con giống…
Đặc biệt, với sự cần cù, chịu khó, họ đã cùng nhau xây dựng cuộc sống ổn định, không chỉ xây dựng nhà cửa khang trang mà còn lo cho con cháu học hành đến nơi, đến chốn.
Từ những ngày đầu thương nhớ quê hương, họ được bù đắp khi được sống trong tình cảm yêu thương, sẻ chia, đùm bọc chan chứa ân tình của vùng quê thứ hai - nơi đất lạ đã hóa chốn thân quen…