Hành trình lá nón

Theo dõi Báo Gia Lai trên Google News

Từ nhiều vùng núi cao rừng già trong tỉnh, biết bao lá nón đã thực hiện cuộc hành trình dài về với đồng bằng. Để lá nón góp phần quan trọng tạo thành nón lá, rất nhiều công sức của người lao động đã đổ xuống để sẻ chia bao thăng trầm cùng nghề làm nón truyền thống. 

Phơi lá vặn ở nhà ông Đỗ Văn Thôi (thôn Hòa Dõng, xã Cát Tân).
Phơi lá vặn ở nhà ông Đỗ Văn Thôi (thôn Hòa Dõng, xã Cát Tân).

Nghề đi lá

Dân trong nghề thường gọi công việc lặn lội nơi núi cao, rừng sâu để tìm các loại lá nguyên liệu làm nón là “đi lá”. Tại huyện An Lão, hầu hết những người làm nghề đi lá đều là đồng bào dân tộc thiểu số. Chị Đinh Thị Chớ (thôn 3 xã An Hưng) mới 20 tuổi nhưng đã có thâm niên gần 10 năm đi bứt lá sít (cách gọi các loại lá làm nón của đồng bào dân tộc thiểu số). Chị Chớ cho biết: “Phụ nữ trong thôn từ già đến trẻ đều biết tìm lá sít. Phải đi mỏi cái chân leo qua nhiều dốc núi đến vùng rừng già thì mới có nhiều loại lá này”.

Mỗi một miếng lá nón thấm đẫm biết bao mồ hôi, công sức của người đi tìm nơi rừng sâu núi cao

Biết chúng tôi muốn thấy tận mắt cây lá nón, anh Trần Văn Chấn, một người từng có thời gian mua bán lá nón ở thôn 3 xã An Hưng, đã nhiệt tình dẫn đi. Cỡi xe máy độ hơn nửa tiếng qua các con đường đèo dốc, đến một con suối khá lớn thì chúng tôi xuống xe, rồi tiếp tục lội suối băng rừng thêm gần chục phút nữa, anh Chấn chỉ vào một bụi cây nhỏ cao khoảng hơn 1 m, có lá giống lá cọ. Đưa tay khéo léo luồn vào chính giữa lùm cây đầy gai, anh Chấn nhẹ nhàng nhổ đọt cây dài hơn chiếc đũa, rồi tách ra thành những mảnh lá nhỏ màu trắng xanh thành hình nan quạt cho chúng tôi xem. “Đồng bào gọi đây là lá sít nhỏ, còn một loại họ gọi là lá lớn thì phải trèo lên gộp đá cao kiếm mới có. Nhà báo không trèo nổi đâu nên đứng đây chờ tôi một chút”. Nói vừa dứt lời anh Chấn chạy biến vào rừng cây, độ chục phút sau quay lại mang theo một cây khá giống cây sít lá nhỏ nhưng thân cao hơn, khi lấy đọt tách ra lá cũng to và dài hơn. Sau này hỏi thăm những người mua bán lá nón thì được biết, cây lá nhỏ có tên gọi lá mật cật, còn lá lớn gọi là lá vặn.

Năm nay 60 tuổi, ông Bùi Văn Ngạn (thôn Thuận Hạnh, xã Bình Thuận) vẫn gắn bó với nghề đi lá sau gần 30 năm.
Năm nay 60 tuổi, ông Bùi Văn Ngạn (thôn Thuận Hạnh, xã Bình Thuận) vẫn gắn bó với nghề đi lá sau gần 30 năm. 

Ở huyện Vân Canh cũng có khá nhiều người đồng bào dân tộc thiểu số lẫn người Kinh ở các xã Canh Hiệp, thị trấn Vân Canh làm nghề đi lá. Những người đi lá ở Vân Canh chỉ chuyên tìm loại lá kè có nhiều ở vùng núi cao hiểm trở, có đọt cây dài trên dưới một mét và to hơn nhiều lần so với đọt cây lá mật cật, lá vặn. Đọt lá kè cũng tách ra thành nhiều miếng lá lớn màu trắng ngà, đầu lá nhọn hơn các loại lá nón khác. Anh Đinh Thuyền, người dân tộc Ba na ở xã Canh Hiệp, cho biết: “Những lúc không làm ruộng nương, mình rủ thêm vài anh em đi thành nhóm chia nhau lên vùng núi cao tìm lá kè. Đi liên tục khoảng 3 ngày thì kiếm được mỗi người khoảng 200 - 300 đọt lá, trừ chi phí cũng nhận được 500-700 ngàn đồng tiền bán lá”.

Nhiều nông dân ở làng nghề nón lá Thuận Hạnh, xã Bình Thuận, huyện Tây Sơn cũng  gắn bó với nghề đi lá. Thâm niên nhất trong nghề có ông Bùi Văn Ngạn (60 tuổi) ở đội 3 thôn Thuận Hạnh. Thời bao cấp, ông Ngạn từng đạp xe đến tận huyện Kbang, tỉnh Gia Lai tìm lá nón. Sau này có xe máy, ông Ngạn thường lên vùng núi cao xã Vĩnh Sơn, huyện Vĩnh Thạnh để đi lá. Khi còn trẻ khỏe, ông Ngạn ở trên núi liên tục, đi nhiều ngày kiếm được khoảng 4.000 đọt lá gánh về một lượt. Giờ tuổi đã cao nhưng ông Ngạn vẫn cố gắng với những chuyến đi lá trong hai ngày, lượng lá nón kiếm được ít hơn. “Cuộc sống khó khăn, chỉ trông chờ vào vài ba sào ruộng làm sao đủ lo cho vợ con, nên mới chọn nghề đi lá rất cực khổ, nguy hiểm này”, ông  Ngạn bộc bạch. 

Anh Trần Văn Chấn đang rút lấy đọt cây lá vặn.
Anh Trần Văn Chấn đang rút lấy đọt cây lá vặn.

Buôn bán lá nón

Ở huyện An Lão, hiện có  5 người làm nghề thu mua lá nón cho các “ tổng đại lý ” ở xung quanh khu vực chợ nón Gò Găng (thị xã An Nhơn). Chị Nguyễn Thị Kim Loan, người có chục năm làm nghề buôn bán lá nón ở thôn Gò Bùi, thị trấn An Lão, cho biết: “Lá nón được mua theo từng bó, mỗi bó gồm 100 đọt lá tươi. Giá mỗi bó lá nhỏ dao động từ 10.000-12.000 đồng tùy theo chất lượng, còn mỗi bó lá lớn giá 20.000 đồng. Vào mùa làm nón, có ngày tôi mua 300-400 bó lá”. Cùng có thâm niên buôn bán lá nón là chị Đặng Thị Thu ở thôn 3, xã An Hưng. Thường nửa tháng một lần, sau khi gom đủ lá, chị Thu chở xuống thị trấn An Lão chuyển lên xe khách đưa xuống cho bạn hàng ở Gò Găng. Phần lớn hộ dân ở thôn Hòa Dõng, xã Cát Tân, huyện Phù Cát đang giữ nghề làm nón truyền thống qua nhiều thế hệ. Đây cũng là nơi tập trung nhiều người làm nghề buôn bán lá nón nhất trong tỉnh. Làm ăn quy mô trong số này là hộ gia đình ông Đỗ Văn Thôi (61 tuổi) ở xóm Nam, mỗi ngày mua - bán được trung bình 30 bó lá nón các loại. Ông Thôi tâm sự: “Tôi được cha dạy cách phân biệt và mua bán các loại lá nón từ thời thanh niên với lời căn dặn phải cố gắng giữ nghề ông bà để lại. Làm nghề này phải biết chịu khó và có kinh nghiệm xử lý thêm một số công đoạn mới có lá nón đẹp đáp ứng yêu cầu khách hàng.  Như đọt lá vặn xanh tươi mua về, bỏ vào hố cát dùng chân đạp cho nở bung ra. Đến chiều đem vô lò than sấy khô với nhiệt độ phù hợp. Tối, tiếp tục phơi sương cho mềm dịu lại, để sáng sớm đem ra bán ở chợ nón Gò Găng”.

Các loại cây lá nón thuộc lâm sản phụ thường mọc xen kẽ với các loại cây thân gỗ ở  rừng núi. Người đi lá thường chỉ bứt lấy đọt chính của cây. Nếu trời nắng ấm cây sẽ mọc lại đọt trong khoảng 1- 1,5 tháng, còn mùa mưa sẽ lâu hơn.

Trước đây thường chỉ có 4 loại lá chính là kè, vặn, đèn, mật cật được người làm nón trong tỉnh sử dụng. Sau đó, có thêm lá buông (ở tỉnh Đồng Nai) cũng được tiêu thụ nhiều. Mỗi loại lá tùy theo chất lượng mà có giá khác nhau, như lá mật cật ở An Lão có lá ngắn thì 1 thiên lá (1.000 đọt lá) có giá 150 ngàn đồng, lá mật cật Vĩnh Thạnh dài hơn và làm nón bền đẹp giá 350 ngàn đồng/thiên. Người làm nón cũng đã có sự thay đổi nguyên liệu lá làm nón đa dạng hơn. Ông Hồ Ngọc Thành (64 tuổi, thường gọi là Ba Ảnh), ở thôn Tân Hòa, xã Cát Tân, cho biết: “Tôi chỉ buôn bán duy nhất lá kè ở Vân Canh cho những người làm nón ngựa. Mấy năm qua, những người làm nón chóp cũng sử dụng lá kè vì thấy lá này giá ngang các loại lá nón khác nhưng to hơn nên lợi hơn về vật liệu. Mặt dù việc làm và tiêu thụ nón ngựa đã giảm nhiều, nhưng cứ 5 ngày một lần ở chợ phiên Phù Cát, tôi vẫn bán được trung bình 3 thiên lá kè”.

Có nhiều người bán lá nón, nhưng chỉ một số ít người ở thôn Thuận Hạnh là “hái tận ngọn, bán tận gốc”. Ông Bùi Văn Ngạn tâm sự: “Trước kia, mỗi phiên chợ Phù Cát tôi bán được 3 - 4 thiên lá, giờ chỉ bán được 1 thiên là mừng rồi. Tính ra, mỗi phiên chợ tôi chỉ kiếm lời được 200- 300 ngàn đồng. Ngoài một số ít người dân thôn chúng tôi cố gắng theo nghề để phục vụ bà con làm nón, chứ ít ai muốn làm công việc này vì cực khổ mà thu nhập thấp”. Cách đây vài năm, thôn Thuận Hạnh có đến mấy chục người theo nghề như ông Ngạn. Giờ chỉ còn lại 5 người.

Một người làm nón ở thôn Hòa Dõng, xã Cát Tân đang cắt lá nón khô.
Một người làm nón ở thôn Hòa Dõng, xã Cát Tân đang cắt lá nón khô.

Trân trọng chiếc nón lá

Lâu nay, khi nói về chiếc nón lá, người ta thường nhắc nhiều đến những người gắn bó, giữ nghề làm nón truyền thống. Nhưng góp phần quan trọng làm nên chiếc nón lá còn có công lao “thầm lặng” của những người lặn lội khắp núi rừng tìm lá nón; của những người buôn bán đã làm “cầu nối” đưa lá nón về các làng nghề truyền thống.

Giờ đây, khi cầm trên tay chiếc nón lá mộc mạc, tôi cảm nhận được nhiều hơn “sức nặng” từ những giá trị văn hóa truyền thống được tạo nên bởi tinh thần lao động cần cù, chịu thương chịu khó của người dân quê mình. Chợt thấy lòng lắng lại khi nhớ đến lời tâm sự của bà Nguyễn Thị Lan, một người có 50 năm gắn bó với nghề làm nón ở thôn Hòa Dõng, xã Cát Tân: “Mỗi một miếng lá nón thấm đẫm biết bao mồ hôi, công sức của người đi tìm nơi rừng sâu núi cao. Khi sử dụng lá làm nón không được lãng phí và cố gắng tạo ra những chiếc nón đẹp. Mong rằng công sức của người lao động chúng tôi gởi vào mỗi chiếc nón sẽ được trân trọng và nhìn nhận một cách tương xứng”.

Hoài Thu 

Có thể bạn quan tâm

Bám rừng giữ “báu vật” giáng hương

Bám rừng giữ “báu vật” giáng hương

(GLO)- Ẩn giữa rừng sâu xã Krong (tỉnh Gia Lai), những căn lán nhỏ được dựng ngay dưới gốc giáng hương cổ thụ. Đó là nơi lực lượng bảo vệ rừng ăn ngủ, thay nhau canh giữ từng cây hương quý - những “báu vật” của đại ngàn.

Bộ đội Biên phòng lan tỏa không khí bầu cử nơi biên giới

Bộ đội Biên phòng lan tỏa không khí ngày hội lớn của toàn dân nơi biên giới

(GLO)- Những ngày cận kề cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026-2031, cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng Ia Mơ (tỉnh Gia Lai) phối hợp với chính quyền, già làng, người uy tín đến từng làng tuyên truyền, vận động bà con sẵn sàng tham gia ngày hội lớn của toàn dân.

Đội SOS Long Hải: Giữ bình yên cho những cung đường

Đội SOS Long Hải: Giữ bình yên cho những cung đường

Khi phố xá đã lên đèn và nhiều gia đình yên giấc, trên những tuyến đường thuộc xã Long Hải (TPHCM) vẫn có những ánh đèn xe lặng lẽ di chuyển. Đó là ánh đèn của Đội SOS Long Hải - nhóm thanh niên tình nguyện đã suốt 7 năm qua hỗ trợ người dân gặp sự cố giao thông trong đêm.

Đêm đập trống dưới ánh trăng rừng

Đêm đập trống dưới ánh trăng rừng

Giữa vùng lõi của Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng, nơi núi đá vôi dựng đứng như những bức tường thành và rừng già nối tiếp đến tận biên Việt - Lào, có một lễ hội mà mỗi nhịp trống vang lên dường như làm nghiêng ngả cả đại ngàn: Lễ hội Đập trống của người Ma Coong.

'Rừng thiêng' giữa đại ngàn

'Rừng thiêng' giữa đại ngàn

Giữa đại ngàn Trường Sơn hùng vĩ, nơi mây trắng quấn quýt những đỉnh núi của vùng cao Đà Nẵng, có một cánh rừng không chỉ xanh bởi lá, mà còn xanh bởi ký ức. Người dân gọi đó là 'rừng bác Năm Công'.

Cán bộ trại giam động viên, chia sẻ với phạm nhân.

Tình người sau cánh cổng trại giam

(GLO)- Từ những câu chuyện rất thật của người trong cuộc, có thể thấy tính nhân văn trong công tác giáo dục, cải tạo phạm nhân tại Trại tạm giam số 1, Công an tỉnh Gia Lai. Đó là nơi cán bộ, chiến sĩ đang kiên trì cảm hóa những người lầm lỗi bằng trách nhiệm và lòng nhân ái.

“Thần y trị điểu”

“Thần y trị điểu” ở An Khê

(GLO)- Hàng chục năm qua, căn nhà của anh Hoàng Huy (SN 1992, ở tổ 1, phường An Khê, tỉnh Gia Lai) luôn ríu rít tiếng chim. Ở đó, anh Huy âm thầm cứu chữa cho hàng trăm chú chào mào mắc bệnh từ khắp nơi gửi về.

Ấm áp những ngôi nhà tái định cư

Ấm áp những ngôi nhà tái định cư

(GLO)- Về thăm những khu tái định cư vùng thiên tai trên địa bàn tỉnh Gia Lai, chúng tôi cảm nhận được mùa xuân ấm áp đang về cùng với sắc hoa tươi thắm, khung cảnh sản xuất, sinh hoạt nhộn nhịp đang định hình trên vùng đất mới.

Ngôi làng Bahnar bị "bỏ quên" giữa núi rừng.

Ngôi làng Bahnar bị "bỏ quên" giữa núi rừng

(GLO)- Một ngôi làng Bahnar không người ở, bị "bỏ quên" giữa núi rừng Tây Nguyên nhưng vẫn hấp dẫn nhiều du khách ghé thăm nhờ vẻ đẹp nguyên sơ của thiên nhiên và kiến trúc nhà truyền thống. Đó là làng Kon Sơ Lăl cũ (xã Ia Khươl, tỉnh Gia Lai).

Tỷ phú nuôi bò ở Chư A Thai

Tỷ phú nuôi bò ở Chư A Thai

(GLO)- Sáng nào cũng vậy, khi mặt trời vừa lên khỏi dãy núi Chư A Thai, ông Nguyễn Kim Tống (thôn Thanh Thượng, xã Chư A Thai) lại tự lái ô tô vượt quãng đường gần 40 km sang xã Pờ Tó để kiểm tra từng khu chuồng trại, từng đàn bò.

Rẫy chung ở Đak Đoa

Rẫy chung ở Đak Đoa

(GLO)- Giữa những đồi cà phê vào độ chín rộ ở xã Đak Đoa, có những khu rẫy không thuộc về riêng một hộ nào. Đó là rẫy chung - mảnh đất “không chia phần” của cộng đồng, nơi bà con cùng góp công vun trồng, chăm sóc qua từng mùa, lặng lẽ tích lũy thành nguồn lực chung để lo việc thôn, việc làng.

Xuân về làng gốm 500 năm tuổi

Xuân về làng gốm 500 năm tuổi

Từng đoàn khách dập dìu men theo con đường nhỏ dẫn vào làng gốm Thanh Hà (phường Hội An Tây, TP. Đà Nẵng). Ngôi làng nhỏ gần 500 năm tuổi bên dòng Thu Bồn, nơi các thế hệ truyền nhau gìn giữ làng nghề nổi danh xứ Quảng.

null