Truyện Họ Hồng Bàng trong sách Lĩnh Nam chích quái kể rằng, tương truyền, vua đầu tiên của nước Việt ta gọi là Kinh Dương Vương Lộc Tục, dòng dõi Viêm Đế Thần Nông, lấy Long Nữ là con gái Long Vương ở hồ Động Đình, sinh ra Sùng Lãm hiệu là Lạc Long Quân.
Lạc Long Quân lấy Âu Cơ, trong năm sinh ra một bọc có một trăm quả trứng, mỗi trứng nở ra một con trai. Sau Lạc Long Quân và 50 con về biển, Âu Cơ và 50 con về ở núi, cùng nhau tôn người con cả lên làm vua, hiệu là Hùng Vương, lấy tên nước là Văn Lang, đóng đô ở Phong Châu (nay thuộc xã Hy Cường, tỉnh Phú Thọ) truyền 18 đời...
Tính từ thời Hùng Vương đến nay, dân tộc Việt đã trải qua lịch sử hơn 4.000 năm dựng và giữ nước…
Có lẽ trong làng báo chả có nhà báo nào lại dám “phóng” những “sự” về các Vua Hùng, về những đền đài, miếu mạo Quốc Tổ mà các nhà sử học chỉ dám vọng mộ tôn phong là “siêu di tích”. Thực tế, qua các triều đại phong kiến Việt Nam, chẳng có ông vua “to gan lớn mật” nào dám sắc phong cho Đền Hùng, sợ phạm tội bất kính.
Bởi vậy mà không dám ngồi ở xứ cao nguyên phóng bút, kẻ hậu sinh nhỏ bằng hạt cát là tôi đã khăn gói lên đường về với Đền Hùng.
1. Từ Hà Nội lên Phú Thọ đường dài 100 km, ngồi trên xe lửa êm như ru trong màu xanh trung du. Từ Phú Thọ về Phong Châu đường dài 15 km, anh bạn quê xứ cọ cùng tôi giong về Đất Tổ trên chiếc xe máy. Trời nắng như đổ lửa nhưng tâm hồn mát rượi. Trong một đời người ngắn ngủi, được một lần thắp nén nhang cho tiền nhân 4.000 năm trước cũng sung sướng lắm thay! Đến con đường rẽ bên dòng sông Thao, người bạn đồng hành chỉ tay:
“Ngã ba sung sướng đấy”. Chúng tôi ngồi lại làm ly chanh đá. Hóa ra cái tên nghe hơi “lạ lạ” ấy lại được áp vào cho ngã ba Thậm Thình. Thậm Thình là tên tượng thanh của tiếng chày giã gạo. Thuở Hùng Vương, đất này là nơi chuẩn bị quân lương, dâng lương thực cho nhà vua và các Lạc tướng, Lạc hầu.
Rẽ tay trái hơn 3 cây số nữa, chúng tôi đã có mặt ở thôn Cổ Tích, xã Hy Cương, tỉnh Phú Thọ. Nguồn cội là đây, tôi nghe lòng thao thiết có tiếng ngàn xưa vọng hiện về ấm áp trong nghĩa đồng bào…
Trước mặt tôi là núi Nghĩa Lĩnh rợp bóng màu xanh cây lá. Núi chỉ cao 175 m. Có tài liệu nói rằng núi được tạo thành cách đây khoảng… 1.047 triệu năm. Thế núi như chiếc đầu rồng, thân rồng uốn lượn thành núi Trọc, núi Pheo, núi Vặn. Quanh quẩn Phong Châu có tất cả 99 ngọn núi như đàn voi phủ phục chầu về Đất Tổ.
Đứng trên đỉnh núi, tầm mắt mở vô biên về ngã ba Hạc, nơi hợp lưu của sông Lô nước xanh, sông Thao nước đỏ thành sông Hồng đổ về châu thổ sáng lóa đôi bờ phù sa.
Chuyện kể rằng, ngày xửa… ngày xưa…Vua Hùng đã đi khắp thiên hạ và cuối cùng chọn đất sơn thủy hữu tình này làm chốn đế kinh. Kinh đô Văn Lang nay là Việt Trì. Cung vua tại gò Làng Cả. Tháp Lang là nơi các Lạc hầu ở. Cẩm Đội đặt trường huấn binh. Nông Trang là kho lúa. Chợ Lú mua bán lương thực. Đồng Minh Nông là nơi vua dạy dân cấy cày. Gò Tiên Cát là nơi dựng lầu kén chồng cho các công chúa. Đồng Hương Trầm là nơi hoàng tử Lang Liêu trồng loại nếp thơm gói bánh chưng, bánh giày dâng bậc sinh thành…
Tôi đã đếm dưới chân 539 bậc thềm để viếng khu di tích gồm 4 đền, 1 chùa và lăng Vua Hùng. Nơi cao nhất là đền Thượng và lăng trên đỉnh núi. Nơi đây các Vua Hùng lập miếu thờ Trời “Kính Thiên lĩnh diện”, thờ ba ngọn núi thiêng là Đột Ngột Cao Sơn, Áp Sơn, Viễn Sơn, thờ thần Lúa (có mảnh vỏ trấu bằng chiếc thuyền thúng mới mất trong kháng chiến chống Pháp), đền Thánh Gióng là tướng nhà trời giúp đuổi giặc Ân.
Khi Thục Phán được nhận ngôi từ Hùng Vương thứ 18, ông đã lập miếu thờ họ Hùng và dựng hai cột đá thề. Lăng chính là mộ Vua Hùng thứ 6. Tương truyền, sau khi đuổi giặc Ân, ngài cởi áo vắt lên cành kim giao rồi hỏa táng tại đó.
Hạ xuống là đền Trung. Nơi này trên 2.300 năm trước dựng quán nghỉ ngơi ngắm cảnh của Vua Hùng, đôi khi dùng để bàn việc cơ mật với các Lạc hầu, Lạc tướng. Sau thời Hùng Vương nhân dân đã lập “Hùng Vương Tổ miếu” tại đây.
Ở lưng chừng núi, mé phải là đền Hạ và chùa. Theo truyền thuyết, đây là nơi Tổ mẫu Âu Cơ chuyển dạ sinh ra bọc trăm trứng nở thành trăm con trai. Do sự tích này mà nhân dân lập đền Hạ thờ các Vua Hùng. Bên phải đền là Sơn Cảnh Thừa Long tự. Phía trước chùa là gác chuông, trước đền là bia công đức. Phía chân núi hướng về Việt Trì là đền Giếng.
Ở đây có giếng Ngọc của hai công chúa Tiên Dung và Ngọc Hoa con Vua Hùng thứ 18. Tương truyền, giếng này là nơi hai nàng rửa mặt, chải tóc, chít khăn. Giếng nằm giữa lòng đền. Không biết đã có bao con dân đất Việt đến đây và uống ngụm nước mát từ giếng Ngọc Đền Hùng…
2. Không có một triều đại nào trong lịch sử lại kéo dài như thuở Hùng Vương, 18 triều vua qua 2.976 năm; và cũng không có bản ngọc phả nào như ngọc phả Đền Hùng, chẳng có đấng tối thượng nào dám phê sắc phong công nhận!
Ngọc phả đền Hùng được viết lần đầu vào triều Tiền Lê, năm Thiên Phúc nguyên niên, tức 980 tây lịch. Bản ngọc phả soạn thời Trần (thế kỷ XIII), năm Hồng Đức thứ nhất Hậu Lê (1470) sau nhuận lại có ghi: “Từ nhà Đinh, Lê, Lý, Trần đến triều đại ta là Hồng Đức hậu Lê vẫn cùng hương khói trong đền. Những ruộng đất, sưu thuế từ xưa để lại dùng vào việc cúng tế vẫn không thay đổi. Ở đây nhân dân toàn quốc đều đến lễ bái để tưởng nhớ công ơn gây dựng nước nhà của các đấng Thánh Tổ ngày xưa…”.
Kiến thiết đền, chùa Hùng Vương từ thuở xa xưa, qua khảo sát thực địa thì đã hư hại hết. Đa phần kiến trúc còn lại là của thời hậu Lê và thời nhà Nguyễn. Dịp đại trùng tu lớn nhất là 6 năm liền 1917 - 1922 với sự góp của, góp công của nhân dân 18 tỉnh Bắc Bộ. Từ đó đến nay, di tích Hùng Vương liên tục được trùng tu mở rộng…
Thời kỳ Hùng Vương hay thời đại Hùng Vương? Các nhà lịch sử, khảo cổ học đã và đang dày công vén bức màn huyền thoại để khẳng định sự thật về lịch sử 4.000 năm của dân tộc Việt, để khẳng định Hùng Vương là tổ tiên xa xưa của trăm họ con Lạc, cháu Hồng. Dù hiện thực hay huyền thoại thì tôi và muôn triệu trái tim người Việt cũng hướng về Đền Hùng Nghĩa Lĩnh bằng tâm thức ngưỡng vọng linh thiêng.
Chim hướng tổ, người tìm tông, mùng 10 tháng 3 (âm lịch) - lễ giỗ Hùng Vương dù không thể trẩy hội cùng cộng đồng cũng xin thắp nén nhang thơm hướng về đất Phong Châu bái Tổ!...