Tỏa sáng giữa đời thường: Người lính 'đội quân nhà Phật' trở về

Theo dõi Báo Gia Lai trên Google News
Sau những năm tháng chiến đấu ác liệt khi làm nghĩa vụ quốc tế cao cả tại chiến trường Campuchia, ông Nguyễn Hồng Châu mang theo những mảnh đạn găm trong mình trở về quê hương. Bằng ý chí kiên cường, người thương binh này nỗ lực vươn lên và luôn nhớ về đồng đội.
Nhìn căn nhà 2 tầng khang trang ở mặt tiền đường Văn Thánh (P.Hương Hồ, TP.Huế, Thừa Thiên-Huế), ít ai biết rằng cơ ngơi này được xây dựng lên bởi một thương binh trở về từ chiến trường Campuchia. Khi gặp chúng tôi, ông Nguyễn Hồng Châu (thương binh hạng 4/4), chủ nhân ngôi nhà, khoác vội chiếc áo che đi những vết thương trên người, rồi bắt đầu câu chuyện…
Hồi ức khó quên cùng đồng đội
Tháng 5.1978, khi vừa tròn 20 tuổi, ông Châu lên đường nhập ngũ tại Sư đoàn 339 thuộc Quân khu 9, đóng tại TP.Sa Đéc (Đồng Tháp). Sau 8 tháng huấn luyện, ngày 15.12.1978 quân Khmer Đỏ (Pol Pot) tràn qua biên giới nước ta (tại địa bàn xã Tân Công Chí, H.Hồng Ngự, Đồng Tháp), ông Châu cùng đồng đội đã tham gia chiến đấu 7 ngày liền, quân địch buộc tháo chạy.
Đầu năm 1979, đáp lời kêu gọi giúp đỡ của Mặt trận Đoàn kết dân tộc cứu nước Campuchia, Sư đoàn 339 trong đội hình quân tình nguyện Việt Nam sang làm nghĩa vụ quốc tế giúp nước bạn thoát khỏi thảm họa diệt chủng. Từ đây, ông Châu và đồng đội bắt đầu hành trình chiến đấu trên đất nước Chùa tháp.
“Lúc đó, quân ta mới qua nên thường tổ chức lực lượng trinh sát, mỗi lần sẽ đi từ 3 - 5 người chứ không thể đi theo hình thức tập trung. Chúng tôi dò thám tình hình xem khu vực đó có bao nhiêu địch, để tiểu đoàn lên kế hoạch tác chiến. Đây là thời gian chiến đấu ác liệt nhất, vì quân địch còn rất đông”, ông Châu nhớ lại.
 
Ông Châu luôn trân quý ký ức cùng các đồng đội năm xưa. Ảnh: Lê Hoài Nhân
Ông Châu luôn trân quý ký ức cùng các đồng đội năm xưa. Ảnh: Lê Hoài Nhân
“Khi đó, tinh thần cách mạng rất cao. Chúng tôi không bao giờ bỏ lại đồng đội. Nếu một đồng đội trúng đạn của địch thì bằng mọi giá phải đưa thương binh về, nên mỗi lần như thế, nếu là hy sinh thì thường sẽ hy sinh hết”, ông Châu nhớ lại và kể thêm: “Thời đó, ý chí người lính trong chúng tôi rất cao, mỗi người luôn tự thủ cho mình một quả lựu đạn, nếu bị địch bắt sẽ sẵn sàng tự sát”.
Ký ức những ngày tháng tham gia chiến đấu tiêu diệt quân Khmer Đỏ, đến giờ vẫn chưa nguôi trong người lính “đội quân nhà Phật” (ở Campuchia, Phật giáo là quốc giáo; và đó là cách gọi thân mật của người dân nước này về bộ đội Việt Nam khi giúp nước bạn thoát khỏi họa diệt chủng - PV): “Trong trung đội lúc đó đông nhất chỉ có 18 - 20 người. Sau mỗi trận đánh, nhiều khi hy sinh chỉ còn 4 người nhưng anh em bọn tôi luôn động viên nhau, bám vị trí để chờ bổ sung lực lượng, vì quân địch nó đánh thường xuyên”.
Thương binh Nguyễn Hồng Châu còn bồi hồi kể về câu chuyện mà ông không thể quên: “Có một hôm tôi cõng một đồng đội đã hy sinh về đơn vị thì một đồng đội tên là Gia (quê Đông Hà, Quảng Trị) cùng huấn luyện với tôi trước đó vào tìm tôi khóc: “Châu ơi, thằng Bé chết rồi”. Lúc đó chả hiểu vì sao tôi lại cười. Thấy vậy nó chửi tôi “Sao đồng đội chết mày lại cười”. Tôi đáp “Tao không cười vì vui. Nhưng nếu bây giờ tao khóc nó, ngày mai mày khóc tao, rồi ngày kia ai sẽ khóc mày?”. Lúc đó chả ai nghĩ mình còn sống để trở về”.
Khởi nghiệp ở tuổi ngoài 50
Ròng rã gần 4 năm trên chiến trường nước bạn, sau khi quân Khmer Đỏ bị tiêu diệt hoàn toàn, và nhất là nước bạn dần ổn định, vững vàng; năm 1982, ông Châu cùng những người lính “đội quân nhà Phật” trở về quê hương với những mảnh đạn còn găm trong mình. Ông xắn quần, rồi vén áo chỉ từng vết sẹo ở chân, tay, bụng và nặng nhất là 2 vết ở vùng đầu. Đó là tất cả những gì mà ông mang trở về với đời thường.
Niềm an ủi lớn nhất của người thương binh Nguyễn Hồng Châu là vợ ông, bà Lê Thị Lành (nay đã 64 tuổi). Nhớ về những năm tháng đó, bà Lành xúc động: “Tôi và ông Châu cưới nhau khi ông vẫn còn trên chiến trường Campuchia, đám cưới diễn ra nhưng vắng chú rể, vì lúc đó ông chưa thể về”.
Ông Châu ngồi trầm ngâm, nhớ lại thời gian vừa xuất ngũ khốn khó, không nghề nghiệp, sức khỏe yếu; rồi bệnh sốt rét theo ông triền miên, mọi việc trong nhà đều một tay vợ ông quán xuyến. Nhưng rồi, khi dần bình phục, quên đi những cơn đau, ông băng lên những cánh rừng sâu thẳm tìm mây, tìm trầm, chiến đấu với đời sống mưu sinh kiên cường, như cách ông đã từng đánh giặc.
Ròng rã qua nhiều năm, vợ chồng ông Châu cũng tích góp được một khoản tiền, nhưng dần sức khỏe của ông Châu cũng không còn tốt để băng suối, xuyên rừng. Thời điểm năm 2009, nghề mộc mỹ nghệ rộ lên, thị trường tiêu thụ tốt, vợ chồng người thương binh ngoài 50 tuổi mới quyết định “khởi nghiệp” bằng một xưởng mộc nhỏ.
 
Xưởng mộc mỹ nghệ rộng hơn 600 m2 của gia đình thương binh Nguyễn Hồng Châu. Ảnh: B.N.L
Xưởng mộc mỹ nghệ rộng hơn 600 m2 của gia đình thương binh Nguyễn Hồng Châu. Ảnh: B.N.L
Mới vào nghề, sản phẩm làm ra chưa thể hoàn hảo, vốn ít nên không cạnh tranh được với những cửa hàng lâu năm. Trong suốt một năm đầu, ông Châu quyết định chỉ lấy công làm lãi, chấp nhận bán hàng ra thị trường với giá lỗ để thu hút người mua. Với bản tính của người lính luôn kiên trì, thế mạnh của ông là sản phẩm luôn được làm cẩn thận, tỉ mỉ và chắc chắn.
Sau một năm ròng, mặt hàng gỗ mỹ nghệ của ông Châu được nhiều người để ý, rồi khách hàng tìm đến ngày một đông, ông thuê thêm nhân công rồi mở rộng nhà xưởng. “Sau khi có lượng khách ổn định, chỉ cần hàng ra là có xe đậu chờ sẵn để lấy rồi”, ông Châu kể.
Xưởng mộc hơn 600 m2 dần ổn định, ông Châu đi tìm thêm nguồn nguyên liệu gỗ, rồi tiếp tục mở thêm một xưởng xẻ gỗ để phát triển theo hệ thống dây chuyền. Hiệu quả rõ ràng, khi ông chủ động nguồn nguyên liệu và đầu ra, lợi nhuận tăng, mỗi năm ông thu hơn 300 triệu đồng.
“Có đồng đội mới có tôi”
Kinh tế đã vững vàng, cuộc sống cũng dần viên mãn khi 4 người con của ông Châu được đầu tư học hành, rồi tốt nghiệp cao đẳng, đại học và có vị trí nhất định trong xã hội. Nhưng trong tâm thức của người thương binh già vẫn luôn ray rứt về đồng đội. Chỉ cho chúng tôi từng bức ảnh bia mộ liệt sĩ, bỗng giọng ông nghẹn lại, trầm ngâm: “Vẫn còn một số đồng đội tôi, đến giờ vẫn chưa tìm thấy gia đình để đưa về”.
“Còn một người đồng đội tôi đang nằm ở nghĩa trang H.Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp chưa được đưa về quê. Trước đây, gia đình đi tìm nhưng đưa nhầm hài cốt người khác về. Hiện tại thì khó lắm vì nhà chỉ còn một người em bị tâm thần, không còn ai để lo hết”, ông Châu nói. Với ông, đồng đội dù hy sinh hay may mắn còn sống đều là những người anh em “ruột thịt” bởi ông luôn tâm niệm rằng “có đồng đội mới có tôi”.
Đến nay, khi là Trưởng ban Liên lạc của Hội Cựu chiến binh Sư đoàn 339 tại Thừa Thiên-Huế, ông luôn kết nối đồng đội như những người anh em, hỗ trợ từ đời sống tinh thần đến vật chất.
Chia sẻ về tình đồng đội vô cùng thiêng liêng, ông Lê Xuân Hợp (63 tuổi, quê H.Lệ Thủy, Quảng Bình) trải lòng rằng họ đã sống, chiến đấu cùng nhau để trở về, nên sẽ luôn dành cho nhau những tình cảm đặc biệt. “Thời chiến, chúng tôi chia nhau từng viên muối, khi trở về dù ở xa nhưng luôn xem nhau như một, giúp nhau trong đời sống thường ngày. Anh Châu kinh tế vững vàng nên đồng đội nào khó, anh đều quan tâm, hỗ trợ, tuy không nhiều nhưng đó là tình cảm”, ông Hợp nói.
Còn ông Nguyễn Thanh Bi (62 tuổi, ở H.Phong Điền, Thừa Thiên-Huế) bày tỏ sự ngưỡng mộ người đồng đội vì làm kinh tế giỏi, song điều cảm phục nhất về ông Châu là một tấm lòng tận tụy, luôn sát cánh, giúp đỡ đồng đội trong thời chiến lẫn thời bình. (còn tiếp)
Theo Bùi Ngọc Long - Lê Hoài Nhân (TNO)
 

Có thể bạn quan tâm

Miền lửa đạn hồi sinh

Miền lửa đạn hồi sinh

Thung lũng Ia Drăng từng là vùng chiến địa nổi danh trên thế giới với đầy rẫy đạn bom. Hơn 50 năm sau, vùng thung lũng chết ấy đã hồi sinh với màu xanh của cây công nghiệp như tiêu, cà phê, cao su; mang lại việc làm và đời sống ấm no cho đồng bào địa phương cũng như dòng người đi kinh tế mới.

Sắc màu huyền bí

Sắc màu huyền bí

Văn hóa dân tộc M’nông luôn tạo cảm giác tò mò bởi sự huyền bí. Ở bất cứ lễ hội nào, đồng bào dân tộc M’nông cũng thể hiện những nét đặc trưng độc đáo, mang đậm bản sắc văn hóa của dân tộc họ. Bản sắc văn hóa đó cứ mãi lan tỏa, rất riêng, không nơi nào có được.

Bánh cuốn của người Tày trên vùng đất lúa

Bánh cuốn của người Tày trên vùng đất lúa

(GLO)- Từ hàng chục năm trước, nhiều gia đình người Tày từ các tỉnh miền núi phía Bắc di cư vào vùng đất Phú Thiện (tỉnh Gia Lai) với khát khao xây dựng cuộc sống mới. Cũng từ đó, món bánh cuốn hay còn được gọi là bánh cuốn canh được họ mang theo đã trở thành đặc sản của vùng đất này.

Dưới bóng nêu làng

Dưới bóng nêu làng

Nghệ nhân nhân dân Hồ Ngọc An (70 tuổi, ở làng Trà Dòn, thôn 2, xã Trà Thủy, H.Trà Bồng, Quảng Ngãi) ngày đêm "truyền lửa", đào tạo lớp trẻ thực hành nghệ thuật trang trí cây nêu làng để gìn giữ tinh túy văn hóa dân tộc Kor.

Nghề lái tàu metro: 'Trái tim' của đoàn tàu

Nghề lái tàu metro: 'Trái tim' của đoàn tàu

Không trực tiếp lái tàu hay đón khách, đội ngũ nhân viên tại Phòng điều độ ở depot Long Bình (TP.Thủ Đức, TP.HCM) là những người làm việc thầm lặng, nhưng quyết định sự vận hành trơn tru của toàn hệ thống metro số 1 (Bến Thành - Suối Tiên).

Bài cuối: Lối mở 'hút' các nhà khoa học, nguồn nhân lực chất lượng cao

Bài cuối: Lối mở 'hút' các nhà khoa học, nguồn nhân lực chất lượng cao

Sau khi Nghị quyết 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia và Nghị quyết 193/2025/QH15 thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc biệt tạo đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia ra đời.

Mưu sinh trên những cánh rừng

Mưu sinh trên những cánh rừng

(GLO)- Việc trồng rừng đã tạo cơ hội việc làm cho nhiều người dân xã Song An, thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai. Giai đoạn nào, công việc ấy, người lao động rong ruổi trên những cánh rừng, nhọc nhằn mưu sinh, kiếm tiền trang trải cuộc sống.