Thương nhớ những căn nhà cô lẻ bên núi

Theo dõi Báo Gia Lai trên Google News
(GLO)- “Mưa chiều thứ bảy tôi về muộn/Cây khế đồi cao trổ hết bông”
(Thi sĩ, triết nhân Phạm Công Thiện)
Căn nhà chơ vơ trên sườn đồi. Tín hiệu kiến trúc duy nhất. Mây, nắng hoang hoải lướt qua nó. Nó đang rất buồn? Đời có gì buồn bằng một mình ở trên núi. “Căn nhà” mà, nó cũng là thực thể sống và nó cũng có tâm hồn. Nó sống trong gió lộng. Tôi bước chầm chậm lên đồi, theo lối mòn mà hẳn chủ nhân của nó tạo ra đã nhiều mùa. Cỏ cây bao quanh khiến nó như căn nhà hoang. Ai đó đã cất nó lên, rồi vứt bỏ đi? Tôi đi vòng quanh căn nhà, chỉ một ít cây gỗ làm khung, trụ, còn lại chủ yếu lồ ô. Có trụ kê trên đá, có trụ chôn vào đất. Nét tỉ mẩn trong bố trí hệ thống trụ, sườn, sắp xếp ván, những lớp vách bằng lồ ô đập dập và cả sự chăm chút cửa sổ rất đẹp, có ý tứ, đã trả lời tôi rằng nó không phải căn nhà tạm bợ, cất tạm, ở tạm, rồi để vứt vội. Vòng quanh chu vi bên ngoài căn nhà, à mà gọi là chòi cũng đúng, dưới mặt đất, là một vạch cạo trũng xuống bao quanh, hẳn nhằm cho nước khi có mưa thoát nhanh rồi. Đúng nghĩa căn nhà thảo mộc. Tôi vạch tí chút ở vách lồ ồ để nhìn vào bên trong. Những thùng, bao chứa đồ căng tròn cột chặt đang chất bên trong, xếp thật ngăn nắp, lớp lang. Ánh nắng cũng le lói rọi vào, lăn tăn trong đó. Hình như chủ nhân cũng cố ý tạo những khe hở như thế. Tựa vào lưng núi, tránh hướng mưa tạt, đón nắng, lộng gió, thoáng đãng như thế này thì ẩm thấp nào xâm hại được. Một thứ khoa học xây dựng dân gian, trao truyền và lĩnh hội rất tự nhiên, nhẹ tênh, thấu hiểu địa phong thổ, địa thời tiết, địa xã hội-tinh tế thiệt. Nó đang bảo vệ của cải cho chủ. Đúng là nó đang sống và không hề vô chủ. Tôi lùi ra xa, chỗ gần gốc cây được cưa phần còn lại như để tạo chiếc ghế ngồi nghỉ, đốt điếu thuốc hút, nhả khói và nhìn ngắm nó.
Nhà trên cao nguyên. Ảnh: Võ Hoài Duy
Nhà trên cao nguyên. Ảnh: Võ Hoài Duy
Nó cách những làng người mười lăm cây số. Những làng người này là người bản địa Xê Đăng. Họ bảo nhiều khi những căn nhà kiểu kia còn xa hơn nữa, hai chục, ba chục cây số. Và đó là nhà kho chứa lương thực của họ. Nương rẫy ở đâu nhà kho ở đó, mà rẫy nương bao giờ cũng xa làng, tách biệt với làng. Mỗi mùa, khi thu hoạch xong, cất lên một cái nhà kho ngay tại rẫy, để chứa nông sản luôn ở đấy. Bỏ luôn thành quả sau một mùa vất vả làm ra cho rừng núi mà không sợ người khác lấy trộm. Cứ để vậy, khi cần thì lên chở về xay giã ăn dần, ăn tới đâu lên chở tới đó. Của cải để giữa trời. Họ bảo không ai lấy đâu, vì ai lại đi lấy công sức của người khác và người Xê Đăng không thích trộm cắp, ghét người trộm cắp. Không ai muốn mình thành người xấu, bị người khác coi khinh và bị cộng đồng mang ra giữa làng bêu tên. Chắc nhờ sống trong vòng ôm của thiên nhiên, rừng núi mênh mông, nắng gió tưng bừng, nên lòng con người ta mới rộng, niềm tin mới dồi dào, tuyệt đối đến vậy.
*
*      *
Rồi đi nhiều, khắp miền Thượng Tây Nguyên, qua nhiều núi sông, quê xứ bon, buôn, plei của người Giẻ Triêng, Rơ Mâm, Brâu, Bahnar, Jrai, Ê Đê, Mnông, Stiêng, Kho, Mạ, Chu Ru… cũng nhận ra những dấu chỉ kiến trúc phổ biến đó. Càng ở vùng sâu, vùng xa, càng thấy nhiều những nhà kho trên núi, cạnh suối, cạnh sông, ven đồi, dưới thung sâu. Có khi là những căn nhà lẻ loi, có khi là hàng chục căn nhà như thế rải khắp một vùng rẫy nương-nhiều gia đình cùng có rẫy canh tác trên một vùng núi, địa bàn. Cứ thấy nó là tin yêu cuộc sống lắm. Sao mà trần gian này đẹp thế không biết. Con người sống bằng tự trọng, bằng niềm tin, tin vững chắc ở con người, tự mình điều chỉnh mình mà chưa cần đến tổ chức, chính quyền, hay pháp luật.  Những căn nhà hồn nhiên, vô tư. Cái bên trong của con người đã chan hòa với cái bên ngoài, trời đất. Thông điệp của đời sống thái hòa. Không còn là nhà kho hay kiến trúc nữa, đây rõ là một thứ tín hiệu văn hóa rồi, văn hóa người sơn nguyên, “đặc sản” văn hóa, vật thể và phi vật thể. Ước gì mình cũng sống bằng tâm thế đó nhỉ. Hay là, nếu lọt vào không gian sống đó, tôi sẽ khởi lên lòng tham (?!). Dễ lắm chứ. Nhưng khi tôi khởi lên lòng tham là tôi đang làm rạn vỡ vẻ đẹp ngọc ngà kia, thậm chí bóp chết nó ngay.
Điều bình dị đó coi vậy mà đã quá hai mươi năm rồi. Bây giờ cũng đi qua sông núi như vậy nhưng những căn nhà đó thưa dần, vắng dần, có chỗ biệt tăm. Hỏi nguyên do thì bà con sơn cước bảo có người vào lấy cắp, chở sạch nông sản và có khi còn đốt, hoặc dỡ nguyên cả cái nhà kho đi luôn.
Giờ thì họ phải tìm cách giữ mồ hôi mình làm ra. Là chở thẳng về nhà, những nông sản thu hoạch được trên rẫy đó, bất kể nó ở xa nhà hay gần nhà. Sự tiến hóa của con người là quá trình phát triển của lòng tham ư, hỡi nhân loại?! Sự tiến hóa của con người là khi người với người sống với nhau bằng dòm ngó, so kè, đấu trí, phòng thủ, tấn công ư, hỡi nhân loại? Tính thiện lành, nhân bản, có còn là gốc và mục tiêu của con người?! Hay giờ loài người vì mất hết “nền người” rồi, vong bản, nên hay kêu gọi nhau hãy “nhân bản”, “thiện”, “lành”, “thật thà”, “vô tư”, “chân chính”. Vàng son trên mặt đất phai lạt. Không lẽ những hình ảnh mà rất nhiều người từng thấy như thế ở Tây Nguyên trở thành kỷ niệm của một thuở sao. Nó trở thành một thứ ký ức kiến trúc, di sản tinh thần của con người.
*
*      *
Giờ cứ mỗi mùa thu hái cà phê, thấy rẫy cà phê nào, chỗ phơi cà phê nào cũng giăng lều bạt để canh giữ đêm lẫn ngày vì nạn trộm cắp. Dân rẫy vất vả mà Công an cũng vất vả.
Lại khi đi qua phố phường, từ đồng bằng đến cao nguyên, cứ nhìn cảnh người ở  phố nhà cửa khóa năm bảy khóa, xây tường cao ngút lồng nhà mình lại, hàng rào thì lởm chởm mảnh chai, kẽm gai mà không hiểu loài người đang đi lên hay đi xuống, con người nơi nào tiến hóa “tính người” hơn, khái niệm văn minh là thế nào đây và chất lượng không gian sống nên hiểu thế nào.
Có vị vua trong lịch sử nước tôi từng chỉ ra rằng chỉ dấu cho một xã hội thái bình là xã hội “Nhà (ở) không rào, cửa không khóa”. Nước tôi từng có những thời đoạn lịch sử như thế, và Tây Nguyên này cũng từng hơn cả thế, như ngôn ngữ kiến trúc của những nhà kho trên núi kia.
Nhà kho trên núi ơi, sao ta nhớ về mi quay quắt thế này. Tây Nguyên giờ rừng còn được mấy mảnh đâu. Cái nhà kho đó tựa vào chân lý nào của tự nhiên đây, để tồn tại, để sống tiếp, để thách thức lòng tham ở con người và phe phẩy cùng gió mây. Bà con sơn nguyên ơi, có ai còn thương tôi thì cất cho tôi một nhà kho như thế để tôi gom góp lưu cất những vẻ đẹp cây cỏ buồn sang, thật thà thảo mộc và tâm hồn người mênh mông…
Bút ký: Nguyễn Hàng Tình

Có thể bạn quan tâm

Phía sau đầu sóng Trường Sa

Phía sau đầu sóng Trường Sa

Bán đảo Cam Ranh nắng gió có một khu đô thị đặc biệt mang tên Khu đô thị Căn cứ quân sự Cam Ranh (Khánh Hòa). Sau những ô cửa bình yên nơi đây là mái ấm của các gia đình quân nhân, trong đó có những người vợ đang ngày ngày thay chồng chăm lo tổ ấm, khi các anh làm nhiệm vụ nơi đầu sóng Trường Sa.

Thầy tôi là nhà cách mạng làm thơ

Thầy tôi là nhà cách mạng làm thơ

Tôi gọi cha tôi bằng 'thầy' vì ông cụ muốn tôi nhớ lại gốc gác của mình từ một làng nào đó ở đất Nghệ An. Người Bắc hay gọi cha là thầy, mẹ là u. Bên nội tôi là người di dân, vào Quảng Ngãi từ mấy trăm năm trước.

Lưu giữ ký ức thời hoa lửa bằng công nghệ

Lưu giữ ký ức thời hoa lửa bằng công nghệ

(GLO)- Chiến tranh đã lùi xa hơn nửa thế kỷ. Những người trực tiếp đi qua những năm tháng khốc liệt ấy, nay đều đã ở tuổi xế chiều. Nhưng thời gian không chờ đợi ai. Khi những nhân chứng dần vắng bóng, cũng là lúc nhiều mảnh ghép ký ức về lịch sử dân tộc không còn cơ hội được kể lại.

Lộ Diêu vươn mình từ gian khó

Lộ Diêu vươn mình từ gian khó

(GLO)- Trước đây, Lộ Diêu (phường Hoài Nhơn Đông) như một thế giới tách biệt với bên ngoài. Ðặc trưng địa hình và cuộc sống của người dân nơi đây được đúc kết qua câu: “Lộ Diêu một biển ba đèo - Gian nan đã vượt, khó nghèo đã qua”.

Làng xưa nay đã đổi thay

Làng xưa nay đã đổi thay

(GLO)- Sau khi về định cư ở vùng đất mới, cuộc sống của người dân 4 làng Plei Pông, Kinh Pêng, Plei Trớ và Plei Hek thuộc xã Chư A Thai (là các làng căn cứ cách mạng trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, còn gọi là 4 làng Ðồn) đã có nhiều đổi thay rõ nét.

Mang con dấu đến bản

Mang con dấu đến bản

Hai đứa con đã 15 và 13 tuổi, nhưng lần đầu tiên, vợ chồng anh Moong Văn Phong mới đi làm khai sinh cho con khi Trung tâm Phục vụ hành chính công xã Nhôn Mai (Nghệ An) mang con dấu đến tận bản để làm thủ tục cho dân.

Những dáng lính vùng biên

Những dáng lính vùng biên

(GLO)- Tôi gặp những người lính trên những chuyến tàu tuần tra ngoài khơi xa, giữa những hải trình dọc dài duyên hải đồng hành, làm chỗ dựa bảo vệ ngư dân và giữ gìn an ninh trật tự trên biển quê hương; gặp họ giữa những vùng biên giới Campuchia heo hút đầy nắng gió.

Nửa đời tìm cha, một đời lưu giữ ký ức

Nửa đời tìm cha, một đời lưu giữ ký ức

(GLO)- Hơn nửa thế kỷ sau chiến tranh, cựu chiến binh Trần Duy Đức vẫn lặng lẽ đi tìm những mảnh ghép của quá khứ. Từ hành trình tìm lại hình bóng người cha liệt sĩ, ông dành cả cuộc đời sưu tầm, ghi chép và lưu giữ lịch sử quê hương cùng những câu chuyện về những con người đã làm nên lịch sử.

Cạm bẫy ma tuý mới "pod chill" - Bài 2: Từ thuốc gây mê y khoa đến bẫy ma túy núp bóng pod chill

Cạm bẫy ma tuý mới "pod chill" - Bài 2: Từ thuốc gây mê y khoa đến bẫy ma túy núp bóng pod chill

Cầm trên tay chiếc “pod chill” nhỏ gọn, tỏa ra mùi hương trái cây ngọt ngào, nhiều bạn trẻ hồn nhiên nghĩ rằng mình chỉ đang dùng một sản phẩm giải trí thời thượng. Nhưng đằng sau làn khói thơm ấy lại là Etomidate - một hoạt chất gây mê y học bị giới tội phạm “biến tướng” thành ma túy nguy hiểm.

Những dấu vết bí ẩn ven sông Ba

Những dấu vết bí ẩn ven sông Ba

(GLO)- Men theo bờ sông Ba đoạn chảy qua buôn Tơnia (xã Ia Rsai, tỉnh Gia Lai), khi nắng cuối ngày hắt những tia vàng lấp lánh trên mặt nước, chúng tôi bắt gặp những vật thể lạ nhô lên khỏi lớp đất sét. 

Vị Xuyên - Bạn tôi vẫn còn đó

Vị Xuyên - Bạn tôi vẫn còn đó

(GLO)- Vùng biên giới Vị Xuyên, tỉnh Tuyên Quang (Hà Giang cũ) hôm nay đã đổi thay, nhưng những người đồng đội của tôi vẫn còn đó, nằm ngay ngắn trong đội hình “hàng thẳng hàng, lối thẳng lối, quân dung tươi tỉnh” tại Nghĩa trang Liệt sĩ Quốc gia Vị Xuyên.

Chị Djen giới thiệu những chùm răng rẽl vừa thu hái

Theo mùa răng rẽl

(GLO)- Mưa như trút nước xuống những cánh rừng ở xã Ðăk Sơmei sau nhiều tháng nắng khô khốc. Những cung đường rừng trơn như đổ mỡ, loang lổ vệt bánh xe máy trượt ngang. Thỉnh thoảng, giữa nền đường đỏ quạch sót lại vài chùm răng rẽl xanh mướt rơi vãi, dấu vết của những chuyến trở về từ rừng.

null