'Thủ lĩnh' của những người khiếm thị

Theo dõi Báo Gia Lai trên Google News
Suốt 25 năm qua, ông Vũ Xuân Trường (54 tuổi) sống trong bóng tối và có 18 năm làm 'thủ lĩnh' của những người khiếm thị ở tỉnh Lâm Đồng.
Ông Trường bên những người đồng cảnh ngộ ẢNH: LÂM VIÊN
Ông Trường bên những người đồng cảnh ngộ ẢNH: LÂM VIÊN
Dù đôi mắt không còn nhìn thấy, nhưng hằng ngày ông Trường đều đến trụ sở Hội Người mù tỉnh Lâm Đồng (đường Trần Quang Diệu, P.10, TP.Đà Lạt) để điều hành công việc của hội và chăm lo cuộc sống cho 50 người khiếm thị đang sống tại đây.
Vượt qua nghịch cảnh
Cách đây 25 năm ông Trường là điều tra viên (Công an Lâm Đồng), khi đang trực ca tết năm 1993, ông bị sốt, mệt mỏi, có triệu chứng nóng bỏng toàn thân và hôn mê. Sau 28 ngày điều trị tại các bệnh viện ở TP.Đà Lạt và TP.HCM ông mới hồi tỉnh và hết sốt. Tuy nhiên, đôi mắt cứ mờ dần, rồi không nhìn thấy ánh sáng nữa. Ông đau đớn, tủi buồn nằm nép mình trong bốn bức tường, tự than thân trách phận. Lúc đó vợ ông đang mang thai con thứ hai, phải đi làm thuê, một mình bươn chải kiếm tiền nuôi con và lo tiền chạy chữa cho chồng. Nghĩ đến cảnh vợ phải chịu khổ cực, còn mình là người vô dụng, trở thành gánh nặng cho vợ con, có lúc ông nghĩ đến cái chết.
Được sự cảm thông, chia sẻ, động viên của bạn bè, người thân, đặc biệt của người vợ đã tiếp thêm sức mạnh để ông không gục ngã trước số phận. Không nhìn thấy ánh sáng, nhưng hằng ngày ông tự mò mẫm bước đi, tự chăm sóc bản thân và phụ giúp vợ. Lúc đó chiếc radio là bạn thân thiết của ông. Năm 2000 khi nghe đài, ông Trường biết ở một số tỉnh, thành có tổ chức Hội Người mù và nhiều mảnh đời bất hạnh hơn mình đã vượt qua khó khăn.
Ông Vũ Xuân Trường vượt qua nghịch cảnh
Ông Vũ Xuân Trường vượt qua nghịch cảnh
Từ đó, ông quyết tâm học chữ nổi Braille, học cách sử dụng máy tính, học định hướng di chuyển để có thể chủ động hòa nhập xã hội.
Bước đầu, ông Trường cùng vài người bạn đồng cảnh ngộ xin gia nhập Hội Khuyết tật TP.Đà Lạt để sinh hoạt và học tập kinh nghiệm. Tiếp đó, ông mạnh dạn đứng ra kêu gọi những người mù ở Đà Lạt tập trung sinh hoạt và tìm tiếng nói chung cho cộng đồng khiếm thị. Đến tháng 8.2001, tỉnh Lâm Đồng cho phép lập Ban Vận động thành lập Hội Người mù, ông chủ động đến các huyện trong tỉnh để tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng và tập hợp những người khiếm thị vào hội. Tháng 4.2003, UBND tỉnh Lâm Đồng cho phép thành lập Hội Người mù, và ông Trường được bầu làm Chủ tịch Hội từ đó đến nay.
Cưu mang những người đồng cảnh ngộ
Hội Người mù ra đời nhưng lúc đó không có trụ sở, không kinh phí, thiếu nhân sự điều hành. Với vai trò thủ lĩnh, ông Trường phải mượn tạm ngôi nhà gỗ số 15 Sương Nguyệt Ánh (Đà Lạt) làm trụ sở và là nơi tá túc của hàng chục người khiếm thị neo đơn, mồ côi, tàn tật... Ông phải vận động các tổ chức xã hội, các nhà hảo tâm hỗ trợ lương thực, nhu yếu phẩm, đồ gia dụng, các phương tiện cần thiết để Hội có thể hoạt động.
Tiếp đó, ông tổ chức dạy chữ nổi, vi tính, dạy nhạc, nghề bó chổi, làm tăm... cho hội viên. Tiếng lành đồn xa, nhiều người khiếm thị ở các huyện tìm đến xin ở lại để cùng chung sống trong một mái ấm. Tuy họ không còn thấy ánh sáng, nhưng lại chan chứa tình người khi cùng chung nhịp đập của trái tim yêu thương. Mọi việc đang suôn sẻ, bất ngờ chủ nhà lấy lại căn nhà, ông Trường lại chạy đôn chạy đáo tìm mượn nơi ở cho hàng chục con người. Dọn về nơi ở mới trên đường Hùng Vương nhưng nỗi lo vẫn canh cánh bên lòng. Ông viết đơn xin tỉnh cấp đất để xây trụ sở và nhà nội trú cho hội viên. Ông Trường thổ lộ: “Năm 2008 mang lại cho tôi niềm vui kép, khi được tỉnh cấp lô đất đầu đường Trần Quang Diệu xây trụ sở cho Hội; còn tôi nhận tấm bằng cử nhân luật sau nhiều năm dở dang vì bị mù”. Được sự giúp đỡ của các nhà hảo tâm, năm 2010 trụ sở Hội Người mù tỉnh Lâm Đồng hoàn thành trong niềm vui của những người khiếm thị.
Trụ sở Hội Người mù tỉnh Lâm Đồng ẢNH: LÂM VIÊN
Trụ sở Hội Người mù tỉnh Lâm Đồng ẢNH: LÂM VIÊN
Suốt 8 năm qua căn nhà số 1 Trần Quang Diệu trở thành mái ấm cho những người khiếm thị, họ cùng chung sống, sinh hoạt, học tập, chia sẻ niềm vui nỗi buồn. Ông Trường cho biết toàn tỉnh Lâm Đồng hiện có trên 1.500 người khiếm thị, nhưng hiện chỉ có 7/12 huyện, thành phố có hội cơ sở. Ngoài ra có 50 người sống nội trú tại trụ sở Hội, bé nhỏ nhất 8 tuổi và người lớn nhất trên 60 tuổi. Trong số đó có 14 em trong độ tuổi đi học, đặc biệt có 3 em đang theo học bậc cao đẳng và đại học. Những người hết tuổi đến trường được học chữ nổi, vi tính, học nghề bó chổi, làm tăm, xoa bóp... để hòa nhập và có thêm thu nhập. Trong số đó phải nhắc đến trường hợp bà Nguyễn Thị Mận (45 tuổi, ngụ TP.Bảo Lộc, Lâm Đồng), bị mù bẩm sinh, hơn 10 năm qua được Hội cưu mang cùng cô con gái nay đã 18 tuổi. Hay trường hợp cháu Nguyễn Văn Hoàng (15 tuổi, quê Gia Lai), khi sinh ra đôi mắt bị trắng đục, mù bẩm sinh nên cha mẹ bỏ rơi. Năm 2011 Hoàng được bà ngoại đưa đến Hội, từ đó cuộc đời em thay đổi. Hoàng cho biết: “Sống ở đây em rất hạnh phúc, được bố Trường chăm lo cho ăn học đầy đủ, không buồn tủi như khi ở Gia Lai. Em được học chữ nổi, học vi tính và được đi học ngoài trường phổ thông, năm tới em lên lớp 7”. Một trường hợp khác là bà Ka Măng (46 tuổi, ngụ xã Phú Sơn, H.Lâm Hà, Lâm Đồng), bị mù bẩm sinh như 7 người khác trong 1 gia đình. Nhưng bà Măng lại bị chứng bệnh viêm tắc tĩnh mạch, chân phải bị hoại tử phải cắt bỏ trở thành người khiếm thị khuyết tật. Bà Ka Măng xúc động nói: “Tôi được anh Trường và Hội cưu mang hơn 10 năm nay, tôi rất biết ơn, nên hằng ngày cố gắng lo chuyện bếp núc, nấu nướng...”.
Từ mái ấm của Hội Người mù đã chắp cánh cho những gia đình mới hình thành, mà người chủ hôn chẳng ai khác là bố Trường. Đầu tiên phải kể đến anh Nguyễn Trung Trực (52 tuổi) và chị Phùng Ngọc Linh (43 tuổi), gia nhập Hội từ những ngày đầu. Năm 2010 hai người nên duyên vợ chồng và sinh được bé gái Nguyễn Phùng Xuân Trúc (7 tuổi), nay hai người có mái nhà riêng, nhưng hằng ngày anh Trực đến Hội dạy chữ nổi và vi tính, còn chị Linh bán vé số. Một cặp vợ chồng khác là K’Cường và Ma Luyện gắn bó với Hội từ năm 2005. Dù bị hai bên gia đình kịch liệt phản đối, nhưng năm 2013 hai người vẫn quyết tâm tổ chức đám cưới dưới sự “bảo trợ” của bố Trường. Nay hai người đã có cháu trai đầu lòng 4 tuổi, và đã “ra riêng”, nhưng sau khi bán vé số, Ma Luyện vội vã đến Hội để giúp việc nấu nướng phục vụ anh chị em... Ông Trường cho biết có 3 gia đình được hình thành khi sinh hoạt tại Hội, ngoài ra còn 7 hội viên khác khi về nhà lập gia đình đều mời ông đến chứng kiến hôn lễ.
Dù cuộc sống của những người khiếm thị nội trú tạm ổn định, nhưng ông Trường vẫn chưa yên lòng vì có rất nhiều người khiếm thị đang gánh chịu thiệt thòi, họ chưa được quan tâm và cảm thông. “Tôi mong ước những người khiếm thị đều được học chữ, học nghề và có nghề nghiệp, gia đình như bao người khác. Mong có nhiều tổ chức, cá nhân quan tâm nhiều hơn đến những người khiếm thị, đừng để họ thiệt thòi quá nhiều”, ông Trường chia sẻ.
Lâm Viên (Thanh Niên)

Có thể bạn quan tâm

Chiếc a chói giữa rừng Trường Sơn

Chiếc a chói giữa rừng Trường Sơn

Dưới mái hiên nhà sàn ở xã La Lay (Quảng Trị), tiếng dao chẻ tre vang lên đều đặn giữa buổi sớm. Nghệ nhân Hồ Văn Thành ngồi bên bó mây vừa lấy từ rừng về. Ông tỉ mẩn đường dao chuốt từng sợi nan tre. Ở miền tây Quảng Trị, hình ảnh ấy không hiếm gặp...

Nghị lực phi thường của người thương binh hạng nặng Lê Thái Hà

Nghị lực phi thường của người thương binh hạng nặng Lê Thái Hà

(GLO)- Khi bị thương nặng tại chiến trường Campuchia, ông Lê Thái Hà (trú phường Bình Định, tỉnh Gia Lai) không nghĩ mình sẽ sống sót. Phục viên với sức khỏe suy giảm đến 91%, ông cũng từng không dám mơ đến những điều xa xôi về tương lai. Vậy mà người cựu chiến binh ấy đã can trường vượt qua tất cả.

4 ngày làm vợ, 54 năm đợi chờ

4 ngày làm vợ, 54 năm đợi chờ

Sau 54 năm kể từ ngày liệt sĩ Nguyễn Văn Đinh ngã xuống trên chiến trường Quảng Trị, bà Nguyễn Thị Ngọ (Nghệ An) mới được đứng trên mảnh đất ông hy sinh. Hành trình ấy khép lại nỗi khắc khoải của một người vợ, nhưng mở ra câu chuyện lay động về tình yêu, sự thủy chung không phai theo năm tháng.

'Bí kíp' nón ngựa nghĩa quân Tây Sơn

'Bí kíp' nón ngựa nghĩa quân Tây Sơn

Nghệ nhân ưu tú Đỗ Văn Lan (80 tuổi, ông Ba Lan) đang giữ nguyên vẹn “bí kíp” tổ truyền làm “nón ngựa Phú Gia” mà ngày xưa nghĩa quân Tây Sơn đội nắng mưa hành quân thần tốc. Những chiếc nón không chỉ như một tác phẩm nghệ thuật mà còn rất bền.

Tiếng vọng trong những phiến đá rêu phong

Tiếng vọng trong những phiến đá rêu phong

(GLO)- Ẩn mình dưới tán rừng già trên dãy núi Bích Kê, lũy đá cổ Phú Hà (thôn Hòa Tân, xã Phù Mỹ Bắc) lặng lẽ tồn tại như một chứng nhân của thời gian. Những bức tường đá phủ rêu bền bỉ trước mưa nắng dường như đang gìn giữ câu chuyện về một vùng đất từng giữ vị trí trọng yếu trong lịch sử.

Chợ ở Quy Nhơn xưa

Chợ ở Quy Nhơn xưa

Với vùng đất Quy Nhơn xưa (nay thuộc tỉnh Gia Lai), tìm hiểu những ngôi chợ cũ cũng là lần giở lại ký ức về quá trình hình thành và phát triển của một đô thị thương cảng, đặc biệt trên phương diện giao thương.

Lính công binh hồi sinh những vùng đất chết

Lính công binh hồi sinh những vùng đất chết

(GLO)- Giữa những cánh rừng và triền núi của phường Bồng Sơn và xã An Toàn, nơi chiến tranh từng đi qua và để lại vô số vết thương, cán bộ, chiến sĩ Lữ đoàn Công binh 7 (Quân đoàn 34) đang lặng lẽ thực hiện nhiệm vụ rà phá bom mìn, trả lại sự an toàn cho đất đai và cuộc sống bình yên cho người dân.

Từ Tiên Nữ đến Núi Le C: Khát vọng xanh giữa trùng khơi

Từ Tiên Nữ đến Núi Le C: Khát vọng xanh giữa trùng khơi

(GLO)- Giữa biển trời Tổ quốc, cán bộ, chiến sĩ đảo Tiên Nữ và Núi Le C vẫn kiên cường bám biển, giữ đảo. Vượt qua nắng gió khắc nghiệt và thiếu thốn nơi đầu sóng, những người lính đảo đang lặng thầm vun đắp màu xanh sự sống, giữ vững chủ quyền thiêng liêng của biển đảo quê hương.

“Đường về” của Siu Un

“Đường về” của Siu Un

(GLO)- Sau những sai lầm trong quá khứ, ông vượt qua mặc cảm, thay đổi nhận thức, trở thành người tích cực tuyên truyền pháp luật, vận động bà con sinh hoạt tôn giáo đúng quy định, góp phần giữ gìn bình yên buôn làng.

Những phận đời bới rác mưu sinh

Những phận đời bới rác mưu sinh

(GLO)- Mỗi buổi sáng, khi phố Núi còn bảng lảng sương sớm, những chuyến xe chở rác lại nối đuôi vào khu tập kết rác xã Gào. Giữa mùi hôi nồng và đàn ruồi dày đặc, những người phụ nữ lặng lẽ cúi mình trên nền đất nhớp nháp, cần mẫn bới tìm chai nhựa, lon bia, giấy vụn…

null