Rượu cần nghiêng ngả đêm rừng

Theo dõi Báo Gia Lai trên Google News
Già làng Krajăn Plin dưới chân núi Langbian (xã Lát, huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng) đọc lời cầu khấn: “Bo krong… Chau go! Cau lec mur… lec mac… hat mong, dhau yo, chau joh…!”- “Hỡi thần linh! Đến uống đi! Đến uống nào…”. Dứt lời khấn của già làng, tiếng chiêng nổi lên. Nào là tiếng chiêng mừng khách quý, tiếng chiêng proh gọi bầy…; nào là tiếng chiêng mừng ngày hội mùa, tiếng chiêng drênh gọi mưa… Đêm càng vào sâu, tiếng chiêng dưới chân núi Langbian càng thổn thức, ngân rung…
Nghe tin chỉ trong thời gian ngắn nữa thôi là bà con dân tộc thiểu số dưới chân núi Langbian sẽ đón nhận bằng công nhận “Nhãn hiệu tập thể cồng chiêng Langbian” do Cục Sở hữu trí tuệ cấp, tôi vác xe máy chạy một mạch xuống nhà Krajăn Plin- già làng trẻ nhất trong những già làng Tây Nguyên. Nhà già làng Krajăn Plin ở ngay trung tâm thị trấn Lát, huyện Lạc Dương (tỉnh Lâm Đồng) là một trong những nơi tôi đến khi muốn “tìm về” với cồng chiêng dưới chân núi Langbian hùng vĩ.
Sinh hoạt văn nghệ dân gian của người Cơ ho Lâm Đồng. Ảnh: K.D
Sinh hoạt văn nghệ dân gian của người Cơ ho Lâm Đồng. Ảnh: K.D
“Những người bạn langbian”
Cũng đã gần 20 năm rồi, ngày ấy, tôi gặp Krajăn Plin rất tình cờ, bởi anh là con rể của một già làng mà tôi quen. Thế rồi, chúng tôi kết thân, rồi sau đó trở thành đồng nghiệp của nhau trong một hội văn nghệ. Dạo ấy, Krajăn Plin bảo: “Mình muốn giữ cho buôn làng mình tiếng chiêng của ông bà để lại bằng cách lập một đội chiêng để “chơi” với nhau. Nhiều tháng rồi, tụi mình đi biểu diễn ở buôn trên làng dưới, bà con thích lắm, nhưng cho tới tận giờ, mình không biết “đặt tên” cho cái kiểu hoạt động này là gì hết!”.
Trong chếnh choáng men rừng, tôi “phán” luôn: “Nhóm của ta có tên là “Những người bạn Langbian”! Bài báo sắp đến của tôi cũng có cái tít này (và đúng là như vậy)!”. Krajăn Plin vít cần rượu sang tôi để tỏ lòng “biết ơn”. Và thế là từ đó, tôi gắn kết với “Những người bạn Langbian”, gắn kết với Krajăn Plin- người đến giờ đã trở thành già làng. Và cũng kể từ dạo ấy, tiếng chiêng của “Những người bạn Langbian” ngân rung không chỉ trong phạm vi buôn làng của người Chil, người Lạch, người Cơho… dưới chân núi Langbian mà còn “âm âm” đến tận Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh… và ra cả quốc tế.
Trong mắt tôi, “Những người bạn Langbian” chẳng có gì là… to tát. Họ chỉ là những người con của núi rừng ngày lên nương lên rẫy, đêm về hóa thân vào lời ca, tiếng hát, điệu múa của núi rừng Langbian. Langbian là ngọn núi có độ cao trên 2 ngàn mét so với mặt biển, cách Đà Lạt chừng hơn 15 cây số, là biểu tượng tự ngàn đời nay của các bộ tộc thiểu số Nam Tây Nguyên. Langbian còn có tên khác là “núi Mẹ”. Quả thực, họ chẳng có gì là to tát, nhưng chẳng hiểu sao, những đứa con trai, con gái của núi Mẹ ở xã Lát (nay là thị trấn) ấy hễ cứ sinh ra là đã yêu thích hát ca, yêu thích tiếng chiêng, tiếng cồng.
“Thủ lĩnh” Krajăn Plin bảo rằng: “Tiếng cồng, tiếng chiêng ấy là của ông bà, bố mẹ mình truyền lại, là di sản không thể để nó bị mai một. Và vì vậy, mình tập hợp mấy chục nam nữ thanh niên lại để họ “làm văn nghệ”. Họ là những bà con thân thuộc của mình”. Quả đúng như vậy: Các thành viên trong nhóm “Những người bạn Langbian” chính là vợ con, là bà con thân tộc và hàng xóm của Krajăn Plin. Họ là những chàng trai, cô gái vai trần chân đất ban ngày lên nương rẫy, tối về nhà làm văn nghệ. Họ là những Cill Sra, Dagout Gli, Cill Dalin, Krajăn Pheny, Krajăn Sick, Păngting Pling, Krajăn Doal… Điều đáng nói nữa là ngay từ khi khởi phát, nhóm nhạc “nhà vườn” này đã ý thức được vấn đề văn hóa dân tộc, nhất là âm nhạc dân tộc thiểu số Tây Nguyên, đặc biệt là dân tộc Lạch-chủ nhân của biểu tượng Langbian tự ngàn đời nay trên cao nguyên Lâm Viên.
Không biết cái tên sở hữu “Nhãn hiệu tập thể cồng chiêng Langbian” có liên quan nhiều đến “Những người bạn Langbian” hay không, nhưng tôi nghĩ họ- những người bạn Langbian ấy- rất xứng đáng: Sau nhóm “Những người bạn Langbian” chiêng cồng, chỉ ở xã Lát của huyện Lạc Dương thôi mà có đến hơn chục nhóm cồng chiêng khác ra đời với mục đích trước tiên là gìn giữ tiếng chiêng cồng của “ông bà mình để lại”; hơn thế, không ít “giọng ca núi rừng” cũng đã cất cánh bay xa như Cill Trinh, Krajan Út… 
Rượu và lửa. Ảnh: K.D
Rượu và lửa. Ảnh: K.D
“Giữ ấm bếp hồng!”
Tôi không nhớ là mình đã bao nhiêu lần đến với “Những người bạn Langbian” ở dưới chân núi Langbian. Chỉ biết là nhiều lắm, rất nhiều. Nhưng lần nào cũng thế, cách “phát lệnh” để bắt đầu một đêm sinh hoạt cồng chiêng của già làng Krajăn Plin cũng thật ấn tượng: “Hãy nổi lửa lên!”. Lúc già làng Krajăn Plin phát lệnh cũng là lúc đêm vừa buông xuống và đỉnh núi Langbian chìm trong sương, núi rừng tĩnh phắc… Thế là lửa rực hồng. Thế là rượu cần tuôn chảy. Rồi nữa, mùi thịt nướng ngậy chân răng. Và dĩ nhiên là phải có cả cồng chiêng. Tiếng cồng trầm ngân rung dội vào đá núi. Tiếng chiêng vút cao bay lên tận đỉnh Langbian. Rượu cần nghiêng ngả đêm rừng. Rồi, Krajăn Plin cất lên tiếng hát: “Dẫu có bão giông thác lũ thét gào/Ta hãy cùng nhau giữ ấm bếp hồng/Dẫu nắng chói chang đốt cháy đôi vai trần/Ta hãy cùng nhau giữ ấm bếp hồng…”.
Đó là lời của ca khúc “Ban tam cah is” (Giữ ấm bếp hồng) do chính già làng Krajăn Plin sáng tác. Đến giờ, “Ban tam cah is” được viết đã những gần chục năm. Dạo đó, khi vừa viết xong, nhân dịp tôi đến, Krajăn Plin “khoe” ngay: “Dĩ nhiên không nói hết những điều muốn nói, nhưng “Giữ ấm bếp hồng” như là một lời hứa, một lời hứa tự tâm can!”. Tôi gật đầu! Cũng “khoe” thêm chút: Tôi và già làng Krajăn Plin cùng sinh hoạt trong chi hội Âm nhạc của Hội Văn hóa Nghệ thuật tỉnh Lâm Đồng nên thường xuyên trao đổi về “nghề” với nhau.
Trong ánh sáng bập bùng của ngọn lửa ngay giữa sân nhà già làng Krajăn Plin, lời bài hát “Ta hãy cùng nhau giữ ấm bếp hồng” trong ca khúc “Ban tam cah is” như tiếng vọng cội nguồn dội lên từ lòng núi mẹ Langbian ngàn đời nay bằng tiếng ching me, ching rđơm, ching dờn, ching thoòng, ching thơ, ching thi… vậy! Cũng giống như nhiều dân tộc thiểu số khác thuộc nhóm ngữ hệ Môn Khơ Me (như Mạ, Chil, Cơho…), bộ chiêng của người Lạch ở xã Lát (Lạc Dương) cũng bao gồm 6 chiếc, gọi chung là ching droòng. Bộ ching droòng “biên chế” như một gia đình mẫu hệ: Trước tiên, chiêng lớn nhất, là ching me (còn gọi là “vàng”), có nghĩa là chiêng mẹ; tiếp đến là chiêng bố rđơm; rồi thứ tự tiếp theo là các con từ lớn đến nhỏ: Dờn, thoòng, thơ… và cuối cùng là em út “thi”.
Già làng Krajăn Plin bảo với tôi rằng: “Cái lý của bộ ching droòng chính là ở cái “gia đình” ấy đấy! Người dân tộc thiểu số mình khi nâng cái chiêng lên thì là người trong một nhà. Người trong một nhà ấy có một bếp lửa. Và vì vậy mà phải giữ ấm cái bếp hồng ấy! Cái ý tưởng của “Ban tam cah is” cũng chính từ đây mà ra!”.
Bây giờ, khi nói đến cồng chiêng Tây Nguyên, ai ai cũng đều quý trọng. Cách nay chừng 20 năm, chuyện áo cơm còn nặng lắm nhưng có người của buôn làng trọng việc “giữ ấm bếp hồng” như những Krajăn Plin, Krajăn Dick… Lại là người thân tộc với Krajăn Plin nên khi Plin lập nhóm “Những người bạn Langbian”, nhạc sĩ Krajăn Dick đóng vai trò là một cố vấn chuyên môn.
Có lần, Dick tâm tư với tôi về nhóm của Plin: “Lập ra thì dễ, chuyện chuyên môn cũng không phải là quá khó, nhưng làm sao để nó “sống” một cách thực sự bằng chính cái “lửa” của bà con mới là vấn đề!”. Tôi quay sang Krajăn Plin và cũng là nói với Krajăn Dick: “Trước mắt, mình cứ tập luyện và biểu diễn trong phạm vi buôn làng của mình cái đã. Sau đó… tính tiếp. Quan trọng là phải giữ cái hồn của dân tộc mình trong tiếng chiêng!”. Plin không gật, cũng chẳng lắc, mà chỉ im lặng cầm cần rượu tu một hơi dài như muốn uống vào trong một con suối ngọn nguồn để ghi tạc vào tim một lời hứa. Và Krajăn Plin đã thực hiện đúng lời hứa ấy!
Không thể đếm được tôi có bao nhiêu đêm ngồi với già làng Krajăn Plin, với nhạc sĩ người Lạch Krajăn Dick, với những nghệ nhân Păngting Muôk, Cill Jăck… bên bếp lửa hồng dưới chân ngọn núi Langbian trong nghiêng ngả đêm rừng với rượu cần tuôn chảy như suối nguồn. Nhưng có một thứ vô cùng quý giá mà tôi đã đếm được: Bộ chinh droòng chỉ có 6 chiếc, và luôn luôn là “người một nhà” của nhau! Và, “Nhãn hiệu tập thể cồng chiêng Langbian” trong nay mai ít nhất là một bảo chứng cho bộ chinh droòng dưới chân núi Langbian-biểu tượng tự ngàn đời nay của các dân tộc thiểu số Nam Tây Nguyên này.
Khắc Dũng

Có thể bạn quan tâm

Chiếc a chói giữa rừng Trường Sơn

Chiếc a chói giữa rừng Trường Sơn

Dưới mái hiên nhà sàn ở xã La Lay (Quảng Trị), tiếng dao chẻ tre vang lên đều đặn giữa buổi sớm. Nghệ nhân Hồ Văn Thành ngồi bên bó mây vừa lấy từ rừng về. Ông tỉ mẩn đường dao chuốt từng sợi nan tre. Ở miền tây Quảng Trị, hình ảnh ấy không hiếm gặp...

Nghị lực phi thường của người thương binh hạng nặng Lê Thái Hà

Nghị lực phi thường của người thương binh hạng nặng Lê Thái Hà

(GLO)- Khi bị thương nặng tại chiến trường Campuchia, ông Lê Thái Hà (trú phường Bình Định, tỉnh Gia Lai) không nghĩ mình sẽ sống sót. Phục viên với sức khỏe suy giảm đến 91%, ông cũng từng không dám mơ đến những điều xa xôi về tương lai. Vậy mà người cựu chiến binh ấy đã can trường vượt qua tất cả.

4 ngày làm vợ, 54 năm đợi chờ

4 ngày làm vợ, 54 năm đợi chờ

Sau 54 năm kể từ ngày liệt sĩ Nguyễn Văn Đinh ngã xuống trên chiến trường Quảng Trị, bà Nguyễn Thị Ngọ (Nghệ An) mới được đứng trên mảnh đất ông hy sinh. Hành trình ấy khép lại nỗi khắc khoải của một người vợ, nhưng mở ra câu chuyện lay động về tình yêu, sự thủy chung không phai theo năm tháng.

'Bí kíp' nón ngựa nghĩa quân Tây Sơn

'Bí kíp' nón ngựa nghĩa quân Tây Sơn

Nghệ nhân ưu tú Đỗ Văn Lan (80 tuổi, ông Ba Lan) đang giữ nguyên vẹn “bí kíp” tổ truyền làm “nón ngựa Phú Gia” mà ngày xưa nghĩa quân Tây Sơn đội nắng mưa hành quân thần tốc. Những chiếc nón không chỉ như một tác phẩm nghệ thuật mà còn rất bền.

Tiếng vọng trong những phiến đá rêu phong

Tiếng vọng trong những phiến đá rêu phong

(GLO)- Ẩn mình dưới tán rừng già trên dãy núi Bích Kê, lũy đá cổ Phú Hà (thôn Hòa Tân, xã Phù Mỹ Bắc) lặng lẽ tồn tại như một chứng nhân của thời gian. Những bức tường đá phủ rêu bền bỉ trước mưa nắng dường như đang gìn giữ câu chuyện về một vùng đất từng giữ vị trí trọng yếu trong lịch sử.

Chợ ở Quy Nhơn xưa

Chợ ở Quy Nhơn xưa

Với vùng đất Quy Nhơn xưa (nay thuộc tỉnh Gia Lai), tìm hiểu những ngôi chợ cũ cũng là lần giở lại ký ức về quá trình hình thành và phát triển của một đô thị thương cảng, đặc biệt trên phương diện giao thương.

Khép lại cuộc chia ly sau 51 năm

Tìm lại người thân sau 51 năm lưu lạc trên đường 7

(GLO)- Năm 1975, giữa dòng người di tản trên đường 7 (nay là quốc lộ 25), cô bé Hồ Thị Diễm lạc mất gia đình và được người Jrai ở buôn Du (xã Ia Rsai, tỉnh Gia Lai) cưu mang, nuôi dưỡng. Hơn nửa thế kỷ sau, đứa trẻ lạc năm nào bất ngờ tìm lại được người thân nhờ một video trên YouTube.

Lính công binh hồi sinh những vùng đất chết

Lính công binh hồi sinh những vùng đất chết

(GLO)- Giữa những cánh rừng và triền núi của phường Bồng Sơn và xã An Toàn, nơi chiến tranh từng đi qua và để lại vô số vết thương, cán bộ, chiến sĩ Lữ đoàn Công binh 7 (Quân đoàn 34) đang lặng lẽ thực hiện nhiệm vụ rà phá bom mìn, trả lại sự an toàn cho đất đai và cuộc sống bình yên cho người dân.

Từ Tiên Nữ đến Núi Le C: Khát vọng xanh giữa trùng khơi

Từ Tiên Nữ đến Núi Le C: Khát vọng xanh giữa trùng khơi

(GLO)- Giữa biển trời Tổ quốc, cán bộ, chiến sĩ đảo Tiên Nữ và Núi Le C vẫn kiên cường bám biển, giữ đảo. Vượt qua nắng gió khắc nghiệt và thiếu thốn nơi đầu sóng, những người lính đảo đang lặng thầm vun đắp màu xanh sự sống, giữ vững chủ quyền thiêng liêng của biển đảo quê hương.

“Đường về” của Siu Un

“Đường về” của Siu Un

(GLO)- Sau những sai lầm trong quá khứ, ông vượt qua mặc cảm, thay đổi nhận thức, trở thành người tích cực tuyên truyền pháp luật, vận động bà con sinh hoạt tôn giáo đúng quy định, góp phần giữ gìn bình yên buôn làng.

Những phận đời bới rác mưu sinh

Những phận đời bới rác mưu sinh

(GLO)- Mỗi buổi sáng, khi phố Núi còn bảng lảng sương sớm, những chuyến xe chở rác lại nối đuôi vào khu tập kết rác xã Gào. Giữa mùi hôi nồng và đàn ruồi dày đặc, những người phụ nữ lặng lẽ cúi mình trên nền đất nhớp nháp, cần mẫn bới tìm chai nhựa, lon bia, giấy vụn…

Người gieo rừng trong bình thủy tinh

Người gieo rừng trong bình thủy tinh

(GLO)- Từ 300 triệu đồng có được sau khi bán mảnh đất canh tác duy nhất của mình, anh Thái Xuân Biên (40 tuổi, ở thôn An Thượng 3, xã Cửu An) bước vào lĩnh vực công nghệ sinh học dù chưa từng biết đến phòng thí nghiệm. 6 năm sau, mỗi năm doanh nghiệp của anh sản xuất 19 triệu cây giống.

null