Nhớ tháng 5 Điện Biên

Theo dõi Báo Gia Lai trên Google News

Những ngày tháng Năm, dòng hồi ức Điện Biên hào hùng lại sống dậy đầy xúc động, khắc khoải bao niềm riêng trong lòng mỗi cựu binh, thân nhân liệt sĩ.

thang-5-dd.jpg
Bí thư Tỉnh ủy Lương Nguyễn Minh Triết cùng đoàn công tác của tỉnh thăm hỏi gia đình liệt sĩ Nguyễn Quận nhân kỷ niệm 70 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 2024. Ảnh: HỒ QUÂN

Một thời xung phong

Sau ngày đất nước hoàn toàn giải phóng, bà Nguyễn Thị Mạnh (SN 1938, quê tỉnh Hà Nam) quyết định gắn bó với mảnh đất Đại Hồng (Đại Lộc) - nơi từng in dấu chân bà trong hành trình theo đuổi lý tưởng cách mạng.

Hôm nay, vết thương chiến tranh hằn in trên thân thể vẫn ngày ngày bào mòn sức khỏe, khiến việc đi lại, sinh hoạt của bà gặp nhiều khó khăn. Nhưng với bà, mỗi vết thương là một phần ký ức hào hùng, gắn liền với chặng đường xung phong đầy tự hào.

Bà Mạnh sinh ra trong gia đình có truyền thống cách mạng. Ngôi nhà ở quê Hà Nam từng là căn cứ bí mật của cán bộ tiền khởi nghĩa, bộ đội chống Pháp. Ngay từ nhỏ, bà đã thấm nhuần tinh thần yêu nước, ấp ủ khát vọng cống hiến cho cách mạng.

Năm 16 tuổi, hưởng ứng phong trào “Tất cả cho chiến dịch Điện Biên Phủ”, bà cùng bạn bè trang lứa hăng hái lên đường. Được phân công làm “anh nuôi” trong đơn vị, bà nhanh chóng thích nghi với điều kiện nấu nướng khắc nghiệt nơi chiến hào.

“Tôi nghe anh chị đi trước kể lại, giai đoạn đầu mở chiến dịch, “anh nuôi” phải nắm cơm từ tuyến sau đưa lên để bộ đội no bụng đánh giặc. Mỗi lần dựng bếp rất vất vả, phải đốt bằng củi khô, rồi thay nhau quạt để tản khói, tránh địch phát hiện mà nã pháo. Không ít lần bom rền khiến gạo, nồi văng tứ tung... Từ khi có sáng kiến bếp Hoàng Cầm, “anh nuôi” đào bếp ngay bên hầm súng, nhờ vậy có thể nấu cơm nóng mỗi ngày” - bà Mạnh kể.

Đào bếp Hoàng Cầm là bài học đầu tiên của bà Mạnh nơi Điện Biên khói lửa. “Bếp được đào nhiều rãnh thoát khói. Dù nhóm lửa ban ngày, khói tan nhanh nên phi cơ địch rà trên đầu cũng không phát hiện” - bà chia sẻ.

Trong một lần chuyển lương thực, bà Mạnh giẫm phải mìn do địch giăng, khiến thân thể chi chít vết thương. Dù được chuyển về tuyến sau điều trị, nhưng mỗi lần nghe tiếng bom rơi, đạn nổ, lòng bà lại thổn thức nỗi lo về đồng đội. Chưa kịp lành hẳn, bà đã xin quay lại chiến hào, tiếp tục sát cánh cùng đơn vị.

Còn bà Hoàng Thị Miều (SN 1938, quê Hải Hương, hiện sinh sống tại xã Đại Hồng, Đại Lộc) tâm sự, bà lên chiến trường Điện Biên khi mới 16 tuổi. Ngày đầu vào đơn vị, bà được giao hỗ trợ lực lượng quân y cứu thương. Dáng vóc nhỏ bé nhưng bà gan dạ, tay chân nhanh nhẹn. Mỗi khi có thông tin bộ đội bị thương, bà lại len lỏi dưới chiến hào để đưa thương binh về tuyến sau cứu chữa.

Xót thương những anh lính trúng đạn, bê bết máu, lấm lem bùn đất, bà Miều hỗ trợ quân y sơ cứu vết thương ban đầu. Nhiều người tỉnh lại sau ca phẫu thuật, bà lại ân cần vỗ về, chăm sóc, đút từng muỗng cháo.

Cô thanh niên xung phong Hoàng Thị Miều vui tính, hay pha trò làm cho thương binh vơi bớt đau đớn. Những nỗ lực của người làm công tác quân y như bà đã cứu sống biết bao anh lính trẻ giữa lằn ranh sinh tử, giúp họ khỏe mạnh trở lại, tiếp tục chiến đấu.

Nỗi nhớ thân nhân

Dời nhà từ xã Tam Sơn về xã Tam Xuân 1 (Núi Thành), bà Nguyễn Thị Vân mang theo giấy tờ, huân chương, Tổ quốc ghi công của người chú là liệt sĩ Nguyễn Quận để thờ cúng. Đó là chút thông tin ít ỏi về liệt sĩ Quận, kể từ ngày ông tham gia cách mạng từ năm 1941.

Bà Vân cho biết, sau ngày đất nước hoàn toàn giải phóng (năm 1975), gia đình mới nhận được giấy báo tử. Trong giấy ghi rõ: ông Nguyễn Quận tham gia chiến đấu trong chiến dịch Điện Biên Phủ với chức vụ Tiểu đội trưởng và hy sinh vào ngày 7/5/1954.

Vinh dự lớn nhất với gia đình là Huân chương Chiến thắng hạng Nhất do Chính phủ truy tặng vì thành tích trong kháng chiến chống Pháp. Huân chương do Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ký ngày 18/3/1958.

Đến nay, đã 71 năm kể từ ngày chiến dịch Điện Biên Phủ đại thắng, nhưng gia đình bà Vân vẫn chưa rõ mộ phần liệt sĩ ở đâu, chỉ lập bàn thờ tại nhà.

“Gia đình rất mong Đảng, Nhà nước quan tâm, hỗ trợ thông tin về nơi chôn cất hoặc quy tập liệt sĩ Nguyễn Quận. Nếu chưa được quy tập, mong Nhà nước tiếp tục tìm kiếm để gia đình yên lòng” - bà Vân mong mỏi.

Liệt sĩ Phan Đức Hương là ông nội chú của ông Phan Đức Bốn (xã Bình Dương, Thăng Bình). Đến nay, thông tin về liệt sĩ cũng chỉ vỏn vẹn trong giấy báo tử do Nhà nước gửi về năm 1975. Liệt sĩ Phan Đức Hương sinh năm 1927, nhập ngũ tháng 8/1947; khi hy sinh mang cấp bậc Tiểu đội trưởng, thuộc Trung đoàn 84; mất ngày 15/6/1953 tại Điện Biên Phủ.

“Những năm qua, thân nhân liệt sĩ được Đảng, Nhà nước quan tâm, chăm lo đầy đủ. Nhưng nỗi trăn trở lớn nhất là gia đình chưa tìm được hài cốt. Hơn 50 năm nay, tôi vẫn thờ tại nhà và mong mỏi có ngày đưa liệt sĩ về với quê hương” - ông Bốn chia sẻ.

Theo LÊ MỸ (baoquangnam.vn)

Có thể bạn quan tâm

Tình yêu kháng chiến - hạnh phúc trọn đời

Tình yêu kháng chiến - hạnh phúc trọn đời

(GLO)- Chiến tranh dẫu khốc liệt song từ sự đồng hành của những người cùng chung lý tưởng cách mạng, tình yêu đã đơm hoa kết trái, trở thành điểm tựa để người lính vững vàng giữa bom đạn, vun đắp nên hạnh phúc bền chặt sau ngày đất nước thống nhất.

Viết lại đời mình bằng việc tử tế

Viết lại đời mình bằng việc tử tế

(GLO)- Ít ai biết, sau dáng vẻ điềm đạm, ít nói của người đàn ông đã bước qua tuổi lục tuần - Kpă Dõ, Trưởng ban Công tác Mặt trận làng Lê Ngol (xã Bờ Ngoong) - là một quá khứ nhiều day dứt. Hai mươi lăm năm trước, vì nhẹ dạ và thiếu hiểu biết, ông bị lôi kéo vào con đường lầm lỡ.

Tìm các anh giữa cỏ non Thành cổ

Tìm các anh giữa cỏ non Thành cổ

Sáng 2.4 vừa qua, tại di tích lịch sử Thành cổ Quảng Trị (tỉnh Quảng Trị), Ban Chỉ đạo quốc gia tổ chức lễ phát động "Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ".

Mùa săn kiến vàng

Mùa săn kiến vàng ở cao nguyên Gia Lai

(GLO)- Khi mùa khô phủ nắng lên những cánh rừng phía Tây Gia Lai, người Jrai bước vào mùa săn kiến vàng. Hành trình tìm kiếm những tổ kiến tuy nhọc nhằn nhưng cũng thú vị, thể hiện sự gắn bó giữa đồng bào dân tộc thiểu số với thiên nhiên từ xưa đến nay.

Ngày mới bên sông Pô Cô

E-magazine Ngày mới bên sông Pô Cô

(GLO)- Sớm mai ở Ia Krái, dòng Pô Cô uốn lượn như dải lụa bạc giữa mênh mông cây cối. Nước sông lăn tăn, gợn sóng nhỏ vỗ vào bãi cát vàng, len qua vườn rẫy, tạo thành một bản hòa ca của thiên nhiên và con người.

Xây dựng thế trận lòng dân nơi tà đạo "Hà Mòn" đi qua - Kỳ 3: Gieo lại niềm tin trên đất cũ

E-magazine Xây dựng thế trận lòng dân nơi tà đạo "Hà Mòn" đi qua - Kỳ 3: Gieo lại niềm tin trên đất cũ

(GLO)- Khi tà đạo “Hà Mòn” tan biến, trên những buôn làng ở xã Hra, xã Đak Pơ, niềm tin làm giàu đang được gieo lại từ chính mảnh đất cũ. Nhờ sự vào cuộc của cấp ủy, chính quyền, lực lượng chức năng cùng ý chí vươn lên của người dân, những vùng đất này đang chuyển mình mạnh mẽ. 

Xây thế trận lòng dân từ sâu rễ bền gốc nơi tà đạo Hà Mòn đi qua

E-magazine Xây dựng thế trận lòng dân nơi tà đạo Hà Mòn đi qua - Kỳ 2: Tỉnh ngộ sau chuỗi ngày tối tăm

(GLO)- Phía sau những lời hứa hẹn mơ hồ về một cuộc sống sung túc không cần lao động. Ở một số buôn làng, những mái nhà vốn yên ấm bị xáo trộn. Chỉ khi cấp ủy, chính quyền, lực lượng chức năng kiên trì vận động, nhiều người mới dần nhận ra sự thật, tỉnh ngộ và quay về với cuộc sống bình thường.

Xây dựng thế trận lòng dân nơi tà đạo “Hà Mòn” đi qua - Kỳ 1: Nơi bóng tối tà đạo “Hà Mòn” đi qua

E-magazine Xây dựng thế trận lòng dân nơi tà đạo “Hà Mòn” đi qua - Kỳ 1: Nơi bóng tối tà đạo “Hà Mòn” đi qua

(GLO)- Có một thời, ở những ngôi làng Bahnar như Kret Krot (xã Hra), Kuk Kôn, Kuk Đak (xã Đak Pơ), nhịp sống bình yên bỗng chùng xuống. Tà đạo Hà Mòn như một “cơn gió độc” quét qua, để lại phía sau sự im ắng nặng nề, len lỏi vào từng mái nhà, khiến buôn làng trở nên khép kín, u ám.

Thúng chai lên phố

Thúng chai lên phố

Nghề đan thuyền thúng bằng tre (thúng chai) dùng để đi biển đánh bắt hải sản sau hàng trăm năm giờ đang dần mai một. Những ngư dân miền Trung vẫn âm thầm bám nghề bằng tình yêu mưa nắng đời người, và ngày càng nhiều những chiếc thúng chai rời biển về phố làm du lịch.

Những chuyện tình xuyên biên giới ở Ia O

Những chuyện tình xuyên biên giới ở Ia O

(GLO)- Trên vùng biên Ia O (tỉnh Gia Lai), dòng Pô Cô vừa là ranh giới tự nhiên, vừa là nhịp cầu kết nối lương duyên. Từ những lần qua lại thăm thân, dự lễ hội, nhiều mối tình nảy nở, hình thành nên những mái ấm xuyên biên giới bình dị, bền bỉ, góp phần dệt nên diện mạo riêng nơi phên giậu Tổ quốc.

Làng bồng bềnh trên dòng Pô Kô

Làng bồng bềnh trên dòng Pô Kô

Giữa miền biên viễn phía tây Gia Lai, trên dòng Pô Kô hùng vĩ, hàng chục gia đình từ Tây Nam bộ tìm đến lập nghiệp, dựng nên những căn nhà nổi chông chênh giữa sóng nước. Cuộc mưu sinh lặng lẽ thể hiện nghị lực của con người, ý chí bám trụ và khát vọng sống chan hòa cùng sông nước.

null