Lần đầu tiên tướng Nguyễn Chí Vịnh công bố những bí ẩn về người thầy kiệt xuất

'Gáo nước lạnh' của ông Ba Quốc

Theo dõi Báo Gia Lai trên Google News
Cuốn sách Người Thầy viết về tướng tình báo anh hùng Đặng Trần Đức (Ba Quốc) vừa được NXB Quân đội nhân dân ấn hành. Thanh Niên xin giới thiệu một số nội dung mà công chúng chưa từng biết về người thầy tình báo.

Sau khi tốt nghiệp trường sĩ quan, Nguyễn Chí Vịnh phải "chạy" chỗ này chỗ khác để được ra chiến trường, nhưng không ăn thua.

Các vị lãnh đạo Đảng và Nhà nước không muốn anh đến chỗ nguy hiểm, họ phải bảo toàn tính mạng của người con trai duy nhất của cố đại tướng Nguyễn Chí Thanh. Cuối cùng, anh phải gặp tướng Lê Đức Anh (Sáu Nam), lúc đó là Thứ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Tư lệnh Mặt trận Tây Nam 719, để "nhờ vả".

Ông Vịnh kể: "Tôi đến gặp ông Sáu Nam với một lý do rất riêng và chưa có tiền lệ đối với những sĩ quan trẻ như tôi. Đó là xin đi chiến đấu ở chiến trường Campuchia". Ông Sáu Nam hỏi: "Trung úy à? Theo bộ đội vậy là tốt đấy". Sau khi hỏi thăm chuyện gia đình, tướng Lê Đức Anh nói ông đồng ý cho Nguyễn Chí Vịnh thực hiện nguyện vọng đi chiến trường, nhưng "chưa tiến bộ thì chưa về đâu đấy". Anh hứa với ông rằng "chưa nên người nhất định chưa về". Như có ngọn lửa thôi thúc trong lòng, anh háo hức đón nhận cuộc đời sang trang mới.

Ông Ba Quốc (phải) và tướng Nguyễn Chí Vịnh. Ảnh: T.L

Ông Ba Quốc (phải) và tướng Nguyễn Chí Vịnh. Ảnh: T.L

Nguyễn Chí Vịnh được đưa đến một đơn vị tình báo, người chỉ huy ở đó là ông Ba Quốc. Lúc đó anh chỉ biết ông Ba Quốc từng là một điệp viên vào Sài Gòn đi sâu vào lòng địch và lập nhiều chiến công, sau giải phóng được phong anh hùng, chứ chưa biết gì hơn.

Ông Ba Quốc nói với anh: "Tôi biết truyền thống gia đình cậu rất vẻ vang. Cậu ở miền Bắc được ăn học, cũng qua một số đơn vị và đã tốt nghiệp trường sĩ quan. Sang đây chỉ có mỗi một việc thôi, đấy là toàn tâm toàn ý vào nhiệm vụ, không có gì khác, và phải rất kiên trì. Nếu làm được thì làm, nếu không làm được cũng nói để tôi báo cáo với anh Sáu Nam cho cậu về hoặc chuyển công việc khác phù hợp".

Ông Vịnh kể: "Nghe những lời đó, tôi như bị dội một gáo nước lạnh. Tôi đoán ông nghĩ tôi bị đưa sang Campuchia để "rèn luyện", để "tráng men" chứ không phải là mong muốn của tôi". Vịnh trả lời: "Cháu sang đây do sự điều động nhưng cũng là nguyện vọng của cháu. Cháu sẽ cố gắng làm hết sức mình. Nếu cháu làm được việc thì cháu sẽ ở lại lâu dài, nếu các chú không dùng được thì các chú có thể điều động cháu đi chỗ khác theo quy định của tổ chức". Ông nhìn tôi, im lặng, có vẻ sửng sốt. Sau này tôi mới biết chưa có ai dám nói với ông Ba giọng như thế cả".

Nguyễn Chí Vịnh đã mất ngủ mấy tuần liền vì "gáo nước lạnh" của ông Ba Quốc. Đó là ấn tượng ông để lại cho anh trong buổi gặp đầu tiên. Mãi sau này, khi đã làm việc nhiều năm với ông, ông mới cho anh biết rằng ông nghĩ một số con em cán bộ ở miền Bắc quen được nuông chiều, nên mới nói những lời như thế. Ông Ba Quốc là người sống rất có tình nghĩa, chu đáo với cấp dưới, nhưng trong công việc ông nghiêm khắc đến nghiệt ngã.

Ngày đầu tiên nhận nhiệm vụ, Nguyễn Chí Vịnh lấy làm lạ khi được ăn cơm trắng, vì đã quen với những bữa cơm độn mì hạt khi còn là học viên sĩ quan. Hỏi người bên cạnh hôm nay là ngày lễ hay sao mà được ăn cơm trắng. Câu trả lời là: Ở Campuchia, bộ đội được ăn cơm trắng. Một chút ưu đãi cho quân tình nguyện giữa chiến trường đầy những cạm bẫy hiểm ác.

Chiều hôm đó, anh mặc quân phục chỉnh tề đến gặp ông Ba. Ông bật cười, nói: "Ở đây, việc đầu tiên là cất hết quân phục. Từ quần áo, giày, mũ, đến đôi tất, hễ liên quan đến quân đội là cất hết, trừ lúc đi họp ở Sở chỉ huy". Rồi ông giới thiệu với anh nhiệm vụ của đơn vị tình báo chiến lược đứng chân tại Campuchia và những nguyên tắc của hoạt động tình báo.

Sau đó, việc của anh là… không được giao việc gì cả, suốt mấy tháng trời. Sốt ruột quá, anh hỏi thì được trả lời: "Cứ ngồi nghiên cứu đi".

Đại tướng Lê Đức Anh gặp gỡ các nhà chỉ huy tình báo (ông Ba Quốc thứ 3 từ phải qua)

Đại tướng Lê Đức Anh gặp gỡ các nhà chỉ huy tình báo (ông Ba Quốc thứ 3 từ phải qua)

Công việc đầu tiên ở Campuchia

Nguyễn Chí Vịnh là chàng trai ham học và cũng ham chơi nữa, nói đúng ra là ham khám phá. Anh đã đọc tất cả sách báo và tài liệu viết về Campuchia, học tiếng Campuchia, rồi lang thang đến mọi ngóc ngách hang cùng ngõ hẻm. Đó là năm 1984, Campuchia tuy được giải phóng 5 năm nhưng ở thành phố dân về rất ít, chỉ có bộ đội ta và bộ đội bạn. Anh đi đến mọi nơi mọi chỗ, "ăn chơi" tại những chỗ có thể. Câu chuyện của Nguyễn Chí Vịnh đến tai ông Ba Quốc như sau: "Nó đi xe xích lô ông ạ, còn ăn cơm tấm sườn, rồi uống cà phê một mình nữa". Anh kể, hồi đó ai cũng khó khăn, đồng đội thường tránh vay tiền của nhau, ai có tiền thì đãi người khác, không có thì thôi. Mỗi dịp lãnh lương, anh thường cho mình được hưởng niềm vui "xa xỉ" như thế. Vẫn không hết quỹ thời gian, anh tập thêm "nghề" đánh máy chữ và tiếp tục học tiếng Campuchia.

Đó là thời gian ông Ba Quốc dạy anh sự nhẫn nại. Sau này ông nói với anh: "Đây không phải là trường học, đây là chiến trường. Trường học làm sai có thể làm lại, nhưng chiến trường thì không được phép sai".

Một hôm, ông Ba Quốc gặp anh. Ông hỏi thời gian qua anh đã làm gì, đi những đâu. Anh trả lời là anh đã đọc hết sách vở tài liệu về Campuchia, đi khắp các đường phố, chùa chiền, bảo tàng, chợ búa, tự học tiếng Campuchia và giao tiếp được với người dân.

Bất ngờ ông bảo: "Cậu về viết báo cáo đi". Anh không hiểu: "Thưa chú, viết báo cáo gì ạ?". "Cậu cứ viết về đường sá ở Phnom Penh đi". Anh vẫn không hiểu. Ông nói: "Thì như cậu vừa nói đấy, đường sá Phnom Penh nó cấu tạo như thế nào, chợ thường ở đâu, có điểm gì đặc biệt, chùa Campuchia như thế nào... Viết đúng những gì cậu quan sát". "Nếu vậy thì cháu viết được, cháu sẽ tự đánh máy luôn".

Đó là công việc đầu tiên anh được giao, dù anh không biết đó là nhiệm vụ gì. Thậm chí lúc đó anh không biết một bản báo cáo phải mở đầu và kết thúc như thế nào, cả đến chữ "địa bàn" anh cũng không hiểu vì anh chưa hề được đào tạo làm công tác tình báo.

Cho đến một hôm, một đội trưởng đặc nhiệm nói với anh: "Thằng cha nào viết về đường phố Phnom Penh mà nó thuộc dữ, biết cả về thầy chùa, về Acha (người hướng dẫn hành lễ trong văn hóa Phật giáo Khmer - TN), biết cả cách ăn mặc, cách sinh hoạt của người Campuchia. Mấy ông Bắc kỳ vô đâu có biết được mấy thứ đó". Anh nói: "Thằng cha Bắc kỳ đó là tôi đấy". Thì ra ông Ba Quốc đã cử đội đặc nhiệm đi kiểm tra và xác minh những gì anh viết. Anh chỉ nghĩ ông "bày việc" để anh làm cho có. Anh nghĩ đó là bản báo cáo "vớ vẩn" không dám đưa ai xem. Viết xong giao cho ông Ba, ông cũng không nói gì.

Sau này anh mới hiểu, nắm bắt địa bàn và thực tế xã hội là vô cùng quan trọng đối với một cán bộ tình báo. Đó chính là "cẩm nang" của tất cả các kế hoạch trong tương lai. Nhưng lúc đó anh vẫn còn nhiều tâm tư, nghĩ mình chưa được giao việc nên cảm thấy xấu hổ. Anh vẫn chưa biết trong thời gian ấy, quân tình nguyện và các chuyên gia Việt Nam sang giúp Campuchia nhiều người không hiểu về đất nước và con người, phong tục tập quán và thực tế xã hội của bạn, nên giúp bạn mà nhiều khi tréo ngoe, bạn cần cái này lại nghĩ bạn cần cái khác. (còn tiếp)

Có thể bạn quan tâm

Về lại ga xép

Về lại ga xép

Tôi đã cố cưỡng lại sự mời gọi của chuyến food tour (du lịch ẩm thực) tại trung tâm thành phố Hải Phòng (cũ) để xuống tàu sớm hơn ba ga.

Ngày mới bên sông Pô Cô

E-magazine Ngày mới bên sông Pô Cô

(GLO)- Sớm mai ở Ia Krái, dòng Pô Cô uốn lượn như dải lụa bạc giữa mênh mông cây cối. Nước sông lăn tăn, gợn sóng nhỏ vỗ vào bãi cát vàng, len qua vườn rẫy, tạo thành một bản hòa ca của thiên nhiên và con người.

Giữ cây thuốc quý giữa đại ngàn An Toàn

Giữ cây thuốc quý giữa đại ngàn An Toàn

(GLO)- Tự xa xưa người Bahnar ở đại ngàn An Toàn (tỉnh Gia Lai) đã biết sử dụng nhiều loài cây rừng để làm thuốc chữa bệnh. Kinh nghiệm được chắt lọc qua nhiều thế hệ, không chỉ chăm sóc sức khỏe cộng đồng mà còn thể hiện sự am hiểu sâu sắc về tự nhiên, góp phần gìn giữ giá trị y học dân gian.

Xây dựng thế trận lòng dân nơi tà đạo "Hà Mòn" đi qua - Kỳ cuối: Xây dựng thế trận lòng dân- tường lửa ngăn tà đạo

E-magazine Xây dựng thế trận lòng dân nơi tà đạo "Hà Mòn" đi qua - Kỳ cuối: Xây dựng thế trận lòng dân- tường lửa ngăn tà đạo

(GLO)- Ba đối tượng cốt cán cuối cùng của tà đạo “Hà Mòn” bị bắt giữ tại khu vực núi Jơ Mông (giáp ranh xã Hra và xã Lơ Pang) vào ngày 19-3-2020 đã đánh dấu bước ngoặt quan trọng, khép lại hành trình đấu tranh kéo dài hơn một thập kỷ.

'Sói biển' Lý Sơn và hành trình nối biển ra Hoàng Sa

'Sói biển' Lý Sơn và hành trình nối biển ra Hoàng Sa

Ở đặc khu Lý Sơn (Quảng Ngãi), lão ngư Dương Minh Thạnh được nhiều ngư dân gọi là “lão ngư Hoàng Sa” bởi có công “nối biển” Lý Sơn ra quần đảo Hoàng Sa. Ông còn được mệnh danh là “sói biển” Lý Sơn, bởi sức vươn khơi dẻo dai, từng 5 lần thoát chết thần kỳ giữa bão biển.

Xây dựng thế trận lòng dân nơi tà đạo "Hà Mòn" đi qua - Kỳ 3: Gieo lại niềm tin trên đất cũ

E-magazine Xây dựng thế trận lòng dân nơi tà đạo "Hà Mòn" đi qua - Kỳ 3: Gieo lại niềm tin trên đất cũ

(GLO)- Khi tà đạo “Hà Mòn” tan biến, trên những buôn làng ở xã Hra, xã Đak Pơ, niềm tin làm giàu đang được gieo lại từ chính mảnh đất cũ. Nhờ sự vào cuộc của cấp ủy, chính quyền, lực lượng chức năng cùng ý chí vươn lên của người dân, những vùng đất này đang chuyển mình mạnh mẽ. 

Những chuyện tình xuyên biên giới ở Ia O

Những chuyện tình xuyên biên giới ở Ia O

(GLO)- Trên vùng biên Ia O (tỉnh Gia Lai), dòng Pô Cô vừa là ranh giới tự nhiên, vừa là nhịp cầu kết nối lương duyên. Từ những lần qua lại thăm thân, dự lễ hội, nhiều mối tình nảy nở, hình thành nên những mái ấm xuyên biên giới bình dị, bền bỉ, góp phần dệt nên diện mạo riêng nơi phên giậu Tổ quốc.

Làng bồng bềnh trên dòng Pô Kô

Làng bồng bềnh trên dòng Pô Kô

Giữa miền biên viễn phía tây Gia Lai, trên dòng Pô Kô hùng vĩ, hàng chục gia đình từ Tây Nam bộ tìm đến lập nghiệp, dựng nên những căn nhà nổi chông chênh giữa sóng nước. Cuộc mưu sinh lặng lẽ thể hiện nghị lực của con người, ý chí bám trụ và khát vọng sống chan hòa cùng sông nước.

Bấp bênh xóm chài vùng biên

Bấp bênh xóm chài vùng biên

(GLO)- Xóm chài trên mặt hồ thủy điện Sê San (làng Tăng, xã Ia O) hiện có 17 hộ với 58 nhân khẩu, đến từ các tỉnh ở miền Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ. Không đất ở, thiếu giấy tờ tùy thân, họ tự dựng nhà bè, bám lấy con nước để mưu sinh.

null