Cheo leo săn rong biển mùa đông

Theo dõi Báo Gia Lai trên Google News
Mùa này, những rạn đá ven biển Nam Ô, hay Sơn Trà (Đà Nẵng) có một thứ lộc trời được sinh ra mà người dân nơi đây quen gọi bằng cái tên dân dã và một nghề rất đặc biệt mà chỉ người dân xứ này mới có, đó là trèo vách đá săn rong mứt.
Lộc trời nơi vách đá
Ghềnh biển Nam Ô, hay Sơn Trà (Đà Nẵng) chắc ít người biết, luôn có một thứ sản vật đặc biệt là rong mứt chỉ xuất hiện vào dịp cuối năm. Rong mứt ở đây vẫn được người dân coi là tinh túy của đất trời, sinh ra trong điều kiện khắc nghiệp nhất, được những ngư dân quanh năm ăn sóng nói gió chế biến nên.
Hơn 5h sáng, nhóm người ở làng biển Nam Ô (Q. Liên Chiểu, Đà Nẵng) trùm kín người để tránh cái lạnh của gió mùa đông bắc và những đợt sóng biển đổ ầm ào vào ghềnh đá, họ ngồi trên những mỏm đá sát mép biển và cặm cụi làm việc. Trên tay họ, chiếc cào được làm từ mảnh kim loại mỏng cứ ràn rạt vào vách đá, kéo theo từng mảng mứt rong biển màu nâu đen, mềm mại. Sau vài nhát cạo, họ lại trút thứ rong biển đó vào một chiếc túi mang theo bên người.

Cheo leo vách đá hái rong biển.
Cheo leo vách đá hái rong biển.
Rong mứt biển chỉ mọc thành từng cụm phủ dày trên các khe, ghềnh đá ở các rạn đá Ngầm, bãi Rạng của bán đảo Sơn Trà và các bãi đá thuộc khu vực Nam Ô, Hòa Vân, chân đèo Hải Vân vào những ngày cuối năm, khi những cơn mưa đổ xuống vùng rạn biển này, khi gió mùa đông bắc tràn về trên khắp các ghềnh đá Đà Nẵng.
Cứ thế, hằng năm, từ khoảng đầu tháng 11 đến giữa tháng Chạp âm lịch cũng là lúc loài “lộc biển” để chế biến rong mứt này bắt đầu sinh sôi nảy nở. Anh Trương Văn Tài (làng chài Nam Ô) là người lâu năm làm rong mứt cho biết: “Trong điều kiện thời tiết thích hợp nhất, chỉ từ mươi ngày đến nửa tháng, mứt có thể dài ra từ 3-4 tấc, đen nhánh như tóc. Đấy là thành phẩm loại ngon nhất để xuất khẩu cho các nước phương Tây hay khách du lịch với giá rất cao!”.
Anh Tài kể về loại rong mứt độc đáo và chỉ có ở những rạn đá mép ghềnh ở Đà Nẵng này. Vào thời xa xưa, từ thuở theo chân các vua Lê vào đất Champa mở cõi, dân làng biển chỉ biết độc một nghề chài lưới, quanh năm làm bạn với sông nước, trong làng có nhà ông Câu, đông con nhà nghèo. Mùa biển động, thuyền không ra khơi được, ông đành ra gành đá những mong tìm được con cá về nấu cháo cho các con ăn. Cá chưa kịp cắn câu thì người đã lả đi vì đói. Trong một giấc mơ kỳ lạ, ông thấy một bà tiên tóc huyền dài thướt tha bay lướt qua. Đôi mắt hoa lên vì đói, dạ dày sôi lên vì chưa có gì nhét vào bụng, ông vội quàng hai tay lên mái tóc đen đó đưa vào miệng. Thấy tóc có vị mặn, dịu mát, đậm đà hương vi của biển khơi, ông ăn mãi, ăn mãi nhưng không có cảm giác chán mà chỉ thấy cơ thể mình như được tiếp thêm nguồn sinh lực. Đúng lúc đó thì một cơn sóng lớn ụp lên gành đá khiến ông choàng tỉnh, trong tay vẫn còn nắm chặt một mớ rêu biển đen mềm. Ông Cân nghĩ rằng tiên hiện ra cứu khổ, vội thu một mớ rong rêu mà ông gọi là “tóc tiên” đem về cứu đói và cùng cho dân làng.

Phơi rong biển tươi.
Phơi rong biển tươi.
Rong mứt được những ngư dân ở đây chia làm 2 loại. Loại to bản bè ra thường được gọi là mứt lá, còn một loại mảnh mai dài ra như những sợi tóc thường gọi là mứt tóc. Trong 2 loại mứt thì mứt lá là loại được ưa dùng và có giá trị cao hơn. Mứt biển sau khi hái về được rửa qua ở nước biển và thêm 2 lần nước ngọt, sau đó để ráo. Mứt biển tươi được cạo từ mép đá mang về, sau khi rửa sạch các tạp chất được mang đi ép hết nước, rồi phơi khô. Khoảng 10 kg mứt biển tươi thì sẽ được 1 kg mứt biển khô. Mứt biển ở rạn Nam Ô được "hái" ngay từ lúc vừa mọc, lá mứt còn non, dai cho nên vị mứt được giữ nguyên. Khi chế biến các món ăn sẽ rất đượm vị, hòa trộn với các món khác.
Anh Tài cho biết, rong mứt có giá trị khá cao, mứt tươi được thu mua tại chỗ với giá từ 300.000đ/kg, mức khô có giá khoảng 2.500.000đ/kg. Hiện nay, mứt không chỉ còn là một món ăn quen thuộc trong bữa cơm của người dân Nam Ô nữa mà đã trở thành một món không thể thiếu trong bữa cơm chay của những người theo đạo Phật ở Đà Nẵng, xuất hiện trong các nhà hang sang trọng ở TP Hồ Chí Minh, Hà Nội, hay tận bên Trung Quốc, Nhật Bản xa xôi. Đặc biệt hơn thì mứt là món ăn rất phù hợp với những người ăn chay trường vì nó giàu chất dinh dưỡng.

Rong biển mọc trên các vách đá cheo leo, để lấy được cũng khá kỳ công và nguy hiểm.
Rong biển mọc trên các vách đá cheo leo, để lấy được cũng khá kỳ công và nguy hiểm.
Cheo leo hái rong mứt, "nhặt" tiền triệu mỗi ngày
Anh Trương Đức Huấn treo mình trên những mép đá hái rong mứt. Nhìn bóng người cheo leo trên vách những rạn đá ở Nam Ô hay Sơn Trà mới thấy mức độ nguy hiểm của nghề này. Cũng chính từ đây xuất hiện những gia đình làm rong mứt chuyên nghiệp hơn. Họ vừa thu nhặt rong mứt trên biển, vừa mang về và chế biến thành sản phẩm.
Tại làng chài Nam Ô, có nhiều gia đình như vợ chồng ông Trần Văn Muộn và bà Phạm Thị Đậu (75 tuổi) mùa này cũng thường dậy từ 4 giờ sáng đi "hái" mứt. Ngày thường, ông bà làm nghề bỏ mối mắm, cá cho mọi người nhưng tới mùa mứt, ông bà cũng hồ hởi đi cạo mứt. Ông Muộn tâm sự: "Hai vợ chồng cứ đến mùa lại đi, tôi không "hái" để buôn bán mà để ăn. Mứt ở đây rất ngon, ngọt, chế biến được nhiều món bổ dưỡng".
Những người giỏi có thể kiếm từ 1,5 đến 2 triệu đồng sau chưa đầy 2 tiếng khai thác rong mứt. Cao điểm có người một tháng có thể “trúng” từ 30 đến 45 triệu, một mức thu nhập khiến nhiều người phải giật mình. Những người già, trẻ nhỏ một ngày cũng có thể kiếm từ 5 đến 7 trăm ngàn đồng.

Ép rong mứt thành bánh để dễ dàng xuất khẩu.
Ép rong mứt thành bánh để dễ dàng xuất khẩu.
Thế nhưng, không phải ai cũng đủ bản lĩnh đi khai thác rong mứt trên biển hay tại các ghềnh đá bởi những điểm khai thác này thường có gió to, sóng lớn. Anh Phan Đường, một ngư dân chuyên khai thác rong mứt cho biết: “Người theo nghề “ăn” rong mứt có 2 cách để đến điểm “ăn” mứt là “ăn” mứt bộ và “ăn” mứt ghe. Những ngày biển động, ghe không xuất bến được thì đi “ăn” bộ. Từ 2 giờ sáng thức dậy đi bộ ra những bãi đá, ghềnh đá gần. Còn cách thứ hai là lên ghe đi ra những bãi đá xa. Theo lời anh Đường, thì tại những ghềnh đá, bãi đá sóng đánh rất mạnh nên chỉ những người khỏe mạnh chịu sương gió mới bám trụ nổi. Và có khi phải treo mình trên những vách đá cheo leo, trơn ướt, chỉ những người có kinh nghiệm và sức khỏe mới làm được. Chỉ dành cho những ai có đầy đủ các tố chất như gan dạ, phản ứng nhanh nhẹn, thủ pháp lanh lẹ, quen sóng gió mới có thể hái rong mứt trên vách đá cheo leo mà thôi.
“Ăn” mứt phải đi từ sáng sớm, người đi ăn mứt phải vượt qua những bãi đá trơn bóng, sắc nhọn, lởm chởm, gồ ghề đến các rạn đá sát biển. Người "ăn" mứt biển thường chọn mặc áo quần bó chặt cơ thể, đầu đội mũ trùm kín chống lại giá rét, sương sớm của biển. Ngoài ra, để tránh trơn trượt, di chuyển dễ dàng, họ thường đi những đôi dép có độ bám, mang gang tay bảo hộ hạn chế trầy xước khi cạo mứt. Đồ nghề của những người đi hái rong mứt thường là một cái gùi tre, một cái cảu (như cái rổ) đan bằng tre sâu bụng hẹp miệng và 5 đến 6 cái “dũm” thường được làm từ sắt tây cắt hình tròn tận dụng từ thùng phuy đựng xăng dầu, có đường kính khoảng 10 cm vừa tay cầm để cạo mứt.
Anh Đường bộc bạch, khi trèo lên các vách đá để "hái" mứt biển vào sáng sớm phải thật cẩn thận. Nghe nghề đi “ăn” mứt có vẻ đơn giản, không mấy nặng nhọc nhưng lại vô cùng nguy hiểm, chỉ cần sơ sẩy một chút thôi là có thể gây hại đến tính mạng. “Mỗi khi cạo mứt, chân thì phải bấu chặt vào mặt đá trơn trượt, tay cạo, mắt phải canh chừng con sóng. Vì nếu chẳng may trượt chân té, sóng đánh vào sẽ rất dễ bị cuốn ra biển liền hoặc bị mắc kẹt vô đá... Thời gian “ăn” mứt trong ngày tùy thuộc vào từng con nước lớn, nước ròng, thường bắt đầu khi thủy triều rút và kết thúc khi thủy triều lên. Bởi vậy, có khi mới 1 giờ sáng, người ta đã vùng dậy í ới gọi nhau mang đèn pin ra biển hái mứt. Mứt biển khá nhỏ và bám rất chắc vào đá, khi hái phải cẩn thận ngắt từng cọng và cố gắng không làm nát mới bán được giá”, anh Đường cho biết.

Mứt biển khô là mặt hàng có giá trị cao được xuất đi thị trường các nước Nhật Bản, Trung Quốc…
Mứt biển khô là mặt hàng có giá trị cao được xuất đi thị trường các nước Nhật Bản, Trung Quốc…
Với người dân ở những làng chài như Nam Ô, hay ven các ghềnh đá Sơn Trà thì nghề này có nhiều khổ cực và nguy hiểm nhưng người dân đã thành thói quen và mang lại nguồn thu nhập khá những ngày cuối năm. Thế nên, cứ đến mùa “ăn” mứt, hằng ngày từ 3 giờ sáng nhiều người đã í ới gọi nhau bắt đầu "hái" mứt. Mỗi lần đi "hái" như vậy, cả vùng ghềnh biển ven mép sóng lại rộn rã tiếng cười.
Hiện nay, nghề làm rong mứt ở các làng biển Đà Nẵng như ở Nam Ô, Sơn Trà đang đem lại thu nhập khá cho bà con nơi đây. Rong biển phát triển trong thời tiết khắc nghiệt, từ khoảng đầu tháng 10 đến cuối tháng 12 âm lịch. Khi nước ngọt từ những đợt mưa lũ làm nước biển giảm độ mặn, cây rong biển hình thành, phát triển, phủ dày các gành đá. Nghề mưu sinh hái “lộc trời” dịp cuối năm thu nhập khá cao, đem về cái tết đủ đầy cho người dân ven ghềnh đá. Rong mứt là món quà quý của biển có giá trị dinh dưỡng cao nên được thu mua với giá rất cao để xuất khẩu, nhiều nhất là sang Trung Quốc, Nhật Bản.
Tiêu Dao (cand.com.vn)

Có thể bạn quan tâm

Ruổi rong đời chăn vịt

Ruổi rong đời chăn vịt

(GLO)- Sau mỗi mùa gặt, những cánh đồng lúa ở các xã An Lương, An Hòa, An Vinh, Tuy Phước… lại rộn ràng bởi đàn vịt hàng nghìn con tìm về kiếm ăn. Gắn với đàn vịt, những người chăn vịt miệt mài rong ruổi qua nhiều cánh đồng, lấy mùa gặt làm nhịp mưu sinh.

Trầm tích sông Ba

Trầm tích sông Ba

(GLO)- Sông Ba đoạn qua xã Ia Dreh (tỉnh Gia Lai) mùa khô, vài con thuyền đánh cá nằm gối đầu nghỉ ngơi trên những doi cát. Chiều xuống, từ những bến sông, người dân vẫn ra tắm mát dù nước cạn tới mức có thể lội ra giữa dòng.

Nửa đời tìm cha, một đời lưu giữ ký ức

Nửa đời tìm cha, một đời lưu giữ ký ức

(GLO)- Hơn nửa thế kỷ sau chiến tranh, cựu chiến binh Trần Duy Đức vẫn lặng lẽ đi tìm những mảnh ghép của quá khứ. Từ hành trình tìm lại hình bóng người cha liệt sĩ, ông dành cả cuộc đời sưu tầm, ghi chép và lưu giữ lịch sử quê hương cùng những câu chuyện về những con người đã làm nên lịch sử.

Miếu thờ liệt sĩ bên suối Hội Phú

Miếu thờ liệt sĩ bên suối Hội Phú

(GLO)- Không biết tên tuổi, quê quán những người lính hy sinh trong trận đánh Tết Mậu Thân 1968 tại Pleiku, người dân bên suối Hội Phú (phường Hội Phú, tỉnh Gia Lai) vẫn âm thầm thắp những nén nhang rồi lập miếu thờ ngay nơi các anh từng nằm xuống. 

Vị Xuyên - Bạn tôi vẫn còn đó

Vị Xuyên - Bạn tôi vẫn còn đó

(GLO)- Vùng biên giới Vị Xuyên, tỉnh Tuyên Quang (Hà Giang cũ) hôm nay đã đổi thay, nhưng những người đồng đội của tôi vẫn còn đó, nằm ngay ngắn trong đội hình “hàng thẳng hàng, lối thẳng lối, quân dung tươi tỉnh” tại Nghĩa trang Liệt sĩ Quốc gia Vị Xuyên.

Chị Djen giới thiệu những chùm răng rẽl vừa thu hái

Theo mùa răng rẽl

(GLO)- Mưa như trút nước xuống những cánh rừng ở xã Ðăk Sơmei sau nhiều tháng nắng khô khốc. Những cung đường rừng trơn như đổ mỡ, loang lổ vệt bánh xe máy trượt ngang. Thỉnh thoảng, giữa nền đường đỏ quạch sót lại vài chùm răng rẽl xanh mướt rơi vãi, dấu vết của những chuyến trở về từ rừng.

Nghị lực phi thường của người thương binh hạng nặng Lê Thái Hà

Nghị lực phi thường của người thương binh hạng nặng Lê Thái Hà

(GLO)- Khi bị thương nặng tại chiến trường Campuchia, ông Lê Thái Hà (trú phường Bình Định, tỉnh Gia Lai) không nghĩ mình sẽ sống sót. Phục viên với sức khỏe suy giảm đến 91%, ông cũng từng không dám mơ đến những điều xa xôi về tương lai. Vậy mà người cựu chiến binh ấy đã can trường vượt qua tất cả.

4 ngày làm vợ, 54 năm đợi chờ

4 ngày làm vợ, 54 năm đợi chờ

Sau 54 năm kể từ ngày liệt sĩ Nguyễn Văn Đinh ngã xuống trên chiến trường Quảng Trị, bà Nguyễn Thị Ngọ (Nghệ An) mới được đứng trên mảnh đất ông hy sinh. Hành trình ấy khép lại nỗi khắc khoải của một người vợ, nhưng mở ra câu chuyện lay động về tình yêu, sự thủy chung không phai theo năm tháng.

'Bí kíp' nón ngựa nghĩa quân Tây Sơn

'Bí kíp' nón ngựa nghĩa quân Tây Sơn

Nghệ nhân ưu tú Đỗ Văn Lan (80 tuổi, ông Ba Lan) đang giữ nguyên vẹn “bí kíp” tổ truyền làm “nón ngựa Phú Gia” mà ngày xưa nghĩa quân Tây Sơn đội nắng mưa hành quân thần tốc. Những chiếc nón không chỉ như một tác phẩm nghệ thuật mà còn rất bền.

null