Vời xa giấc mơ lên bờ…

Theo dõi Báo Gia Lai trên Google News
0:00 / 0:00
0:00
  • Nam miền Bắc
  • Nữ miền Bắc
  • Nữ miền Nam
  • Nam miền Nam
Cha truyền, con nối, đã bao đời nay, cuộc sống cư dân vạn chài trên sông Lam vẫn lênh đênh theo từng con nước. Một 'mảnh đất cắm dùi', một mái nhà bé nhỏ luôn là niềm khao khát của những người sống cảnh 'nước sông, gạo chợ'.

Lênh đênh

Dưới chân cầu Yên Xuân cũ (xã Xuân Lam, huyện Hưng Nguyên, Nghệ An) có khoảng mươi chiếc thuyền cũ kỹ, rách nát. Từng đợt sóng xô vào mạn làm chiếc thuyền của ông Phạm Ngọc Hoài (SN 1975) chòng chành chực trôi đi. Buộc lại chiếc thuyền cho chắc chắn, ông Hoài thủ thỉ: “Cha mẹ tôi người Đức Thọ, Hà Tĩnh. Ông bà ra đây mưu sinh bằng nghề buông câu thả lưới rồi sinh ra tôi. Cả đời tôi gắn bó với khúc sông này. Dân vạn chài không một tấc đất cắm dùi. Phận tôi đã đành, nhưng tương lai các con mù mịt lắm...”.

Trên chiếc thuyền nan là nơi 4 người trong gia đình ông Hoài tá túc, chẳng có gì đáng giá ngoài mấy bộ áo quần cũ vắt tứ tung và những nồi niêu lổn nhổn trên sàn. Bao năm qua, việc ăn, ngủ, sinh hoạt cá nhân chỉ trong con thuyền nan chật chội. Ông Hoài có 3 người con. Người con gái lớn đã lấy chồng, cũng xem như phần nào thoát cảnh “nước sông, gạo chợ”. Đứa thứ hai học lớp 6, đứa út mới lớp 3. Hàng ngày, hai đứa trẻ dắt díu nhau đến trường, lớp, còn sách vở thì xin sách cũ của bạn, các anh chị khóa trước. Khổ nhất vẫn là không có chiếc bàn để học hành tử tế. Khi chúng tôi đến, cậu con trai lớp 6 đang nằm bẹp dưới sàn thuyền để học bài.

Hằng ngày, người dân xóm chài vẫn buông lưới trên sông.

Hằng ngày, người dân xóm chài vẫn buông lưới trên sông.

Hằng ngày, để đưa các con vào bờ đi học, ông Hoài phải dùng một chiếc thuyền nhỏ “tăng bo”. Nhiều hôm mưa gió, vào đến bờ là người và sách vở cũng đã ướt nhẹp. “Khổ lắm cô ơi. Thuyền nhỏ không thể kê bàn ghế cho cháu ngồi học nên việc học hành hết sức vất vả. Ở trên thuyền chỉ dùng điện ắc quy nên phải rất tiết kiệm. Những hôm mưa gió cả nhà phải đi ngủ sớm, con cái không học hành gì được. Trẻ con ở xóm chài này thường chỉ học hết lớp 6,7 là nghỉ thôi, nhường cho em sau học. Biết cái chữ, biết cộng trừ nhân chia là tốt rồi”, ông Hoài buông tiếng thở dài.

Để có tiền cho con theo học cái chữ, người đàn ông U50 này phải ngược xuôi nay neo thuyền khúc sông này, mai đậu chỗ khác buông lưới, thả câu. Từ đời cha rồi nay đến lượt bản thân ông “nối nghiệp” chài lưới. Cuộc mưu sinh trên dòng sông Lam hết ngày này sang tháng khác, hết mùa nắng đến mùa bão lũ đầy vất vả, nhọc nhằn nhưng chẳng thể khấm khá. “Tôi bị căn bệnh hen suyễn bẩm sinh, mỗi lần trái gió trở trời lại không thở nổi. Quần quật từ sáng tới tối mà mỗi tháng cũng chỉ kiếm được vài ba triệu bạc. Đời cha tôi, đến đời tôi cũng chỉ mơ ước có một mảnh đất nhỏ để lên bờ sinh sống, an cư, nhưng có lẽ ước mơ đó khó thành lắm”, ông Hoài bộc bạch.

Luẩn quẩn đến bao giờ?

Xóm Làng Chài, xã Hòa Lam, huyện Hưng Nguyên, Nghệ An.

Xóm Làng Chài, xã Hòa Lam, huyện Hưng Nguyên, Nghệ An.

Kế bên “ngôi nhà” của ông Hoài là con thuyền nhỏ được lợp thêm mái tôn, che chắn tạm bởi mấy tấm ván gỗ nứt toác của người em trai Phạm Ngọc Hiệp. 38 tuổi, anh Hiệp đã là bố của 5 người con. Vợ anh, chị Đoàn Thị Thanh (SN 1986) hiện đang mang bầu đứa con thứ 6. “Không tấc đất cắm dùi, cuộc sống khó khăn khi tôm cá cạn kiệt, việc vận tải cát sạn trên sông giờ đã có những thuyền máy lớn, có băng tời, máy múc... Hôm nào may mắn thì kiếm được 100 - 200 nghìn đồng, nhưng có khi 2-3 ngày không kiếm được đồng nào”, anh Hiệp chia sẻ.

Không có bàn học, người con trai thứ hai của ông Hoài đang nằm bẹp dưới sàn thuyền để học bài.

Không có bàn học, người con trai thứ hai của ông Hoài đang nằm bẹp dưới sàn thuyền để học bài.

Người dân xóm chài đã quá quen với tính khí thất thường của dòng sông Lam. Ngày thường, dòng Lam yên ả, đẹp đến lạ. Nhưng cũng chính dòng sông ấy, vào mùa mưa lũ, nước đục ngầu, cuộn sóng, hung hãn và giận dữ như thể muốn nhấn chìm, nuốt chửng tất cả. Những “ngôi nhà” trở nên nhẹ bẫng giữa ầm ào của gió mưa gào rít. “Vất vả nhất là ngày mưa bão, dân chài từ người già, đến trẻ nhỏ bám trụ trên khoang thuyền chật chội để tránh trú. Nếu thấy không an toàn thì phải nhanh chóng di chuyển vào bờ xin ở tạm nhà dân. Khổ quá rồi cũng thành quen”, ông bố 5 con tâm sự.

Gia cảnh ông Nguyễn Văn Quang (SN 1958) dường như còn khó khăn hơn. Lớn tuổi, vợ ông Quang bị đau khớp, đi lại khó khăn nên cách đây ít năm ông lên bờ, nhặt nhạnh tôn cũ chắp vá, dựng thành “nhà” bên mé sông. Gọi là “nhà” nhưng thực tế chỉ là một căn lều rộng chừng 10 m2, cao quá đầu người, chứa đến 7 thành viên trong gia đình. Mùa mưa lũ, “căn nhà” chìm nghỉm dưới sông Lam, cả 7 người phải leo lên thuyền. Vợ chồng ông Quang chỉ có một người con gái, lấy chồng cũng dân sông nước. Không có nhà, cả gia đình con gái đến ở ngay trên thuyền của ông. “Ở xóm vạn chài này, rất khó để đánh giá ai nghèo khổ hơn ai bởi, tất cả đều như nhau, sống bám vào sông, no đói cũng tùy thuộc vào sông. Từ miếng cơm, manh áo đến mớ rau, viên thuốc đều trông cả vào mấy con tôm, cá đánh bắt được từ dưới dòng sông. Quẩn quanh trên bến, dưới thuyền, đói no phụ thuộc vào từng bữa buông lưới”, ông Quang nói.

Người đàn ông U60 này chẳng nhớ mình gắn bó với nghề chài lưới đã bao nhiêu năm. Chỉ biết từ lúc sinh ra đã sống cùng gia đình trên những chiếc thuyền, đến lúc lấy vợ sinh con, chiếc thuyền vừa là nhà, vừa là sinh kế của cả gia đình. Hai bên nội ngoại nhiều đời làm nghề chài lưới nên như vòng tròn bất tận của số phận, hai vợ chồng lại tiếp tục sống đời duyên nợ cùng sông. “Tủi thân nhất là khi nhà có đám cưới, đám ma. Cũng chỉ mấy gia đình sông nước với nhau. Chúng tôi khao khát có được mảnh đất để cắm dùi, thoát khỏi cảnh sống lênh đênh này”, ông Quang trầm ngâm.

Cứ mỗi năm trôi qua, ước mơ có một “mảnh đất cắm dùi” càng khắc khoải trong ước mơ của những người dân xóm vạn chài. Nhưng rồi nhiều năm qua, mong ước ấy vẫn còn dang dở. Chẳng có sự lựa chọn nào hơn, cư dân xóm vạn chài vẫn phải tiếp tục gắn đời mình với sông nước. Ước vọng lên bờ; ước vọng đổi đời, mãi vẫn chỉ là ước vọng, dở dang và chưa biết bao giờ là hiện thực.

Trong khi người dân vạn chài đang ước mơ có mảnh đất để sinh sống, thì cách đó không xa, một khu tái định cư đã xây dựng xong 2 năm trước đang bỏ hoang. Khu tái định cư này được UBND tỉnh Nghệ An phê duyệt năm 2011 để di dời 100 hộ dân sống trong vùng thiên tai, sạt lở đất ở phía ngoài đê sông Lam thuộc xã Xuân Lam, huyện Hưng Nguyên. Mặc dù thuộc dự án khẩn cấp, nhưng do thiếu vốn nên đến năm 2021 dự án mới hoàn thành, bàn giao cho địa phương. Tuy nhiên, kể từ đó đến nay, khu tái định cư vẫn bỏ hoang, chưa có hộ dân nào đến ở. Ông Nguyễn Văn Phận - Chủ tịch UBND xã Xuân Lam cho biết: “Xóm vạn chài có 13 hộ với khoảng 100 nhân khẩu, cuộc sống rất khó khăn, khát khao được cấp đất để lên bờ sinh sống. Nếu được bố trí ở khu tái định cư cho vùng sạt lở đang bỏ không đó thì quá tốt. Nhưng vấn đề đó xã không quyết được, phải xin chủ trương của tỉnh”.

Link bài gốc: https://tienphong.vn/voi-xa-giac-mo-len-bo-post1572698.tpo

Có thể bạn quan tâm

Quyết tâm mạnh mẽ của Việt Nam trong phòng, chống mua bán người - Bài 1: Những cuộc đời bị đánh cắp

Quyết tâm mạnh mẽ của Việt Nam trong phòng, chống mua bán người - Bài 1: Những cuộc đời bị đánh cắp

Nạn mua bán người gây ra những hậu quả không thể đo đếm được khi tước đoạt tương lai, cuộc sống và để lại nỗi đau tận cùng cho nạn nhân, gia đình họ cùng nhiều người khác. Thấu hiểu nỗi đau đó, Đảng, Nhà nước, Quốc hội và cả hệ thống chính trị quyết liệt đấu tranh với loại tội phạm này. Luật Phòng, chống mua bán người sau hơn 10 năm được Quốc hội thông qua đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng, có ý nghĩa chính trị cả về đối nội, đối ngoại và thể hiện quyết tâm của Việt Nam trước vấn nạn nhức nhối cần loại bỏ.
Sóc, Bẹc dưới bóng mây Tà Xiên

Sóc, Bẹc dưới bóng mây Tà Xiên

Con chó Sóc có màu lông xám pha trắng giống màu gấu trúc, còn con chó Bẹc có lông vàng pha đen. Cả 2 con không phải vật lộn để sinh tồn như con chó Ca Dăng trong cuốn tiểu thuyết nổi tiếng thế giới của nhà văn James Oliver Curwood. Cả 2 con phải quen với mùi hương mới, khi sự đổi thay lan khắp vùng cao xã Ga Ri (Tây Giang).
Phía sau những gánh hàng rong - kỳ 2: Những đêm dài…

Phía sau những gánh hàng rong - kỳ 2: Những đêm dài…

Họ cũng muốn được quây quần bên mâm cơm tối cùng gia đình, được ngủ say trên chiếc giường có chăn ấm, nệm êm. Nhưng cuộc mưu sinh không cho họ lựa chọn nào khác. “Nghề của mình như vậy, đã đâm lao thì phải theo lao. Đời mình không sướng được thì cố để con cháu được sướng thay mình”, chị Lợi, một người bán hàng rong ở bờ hồ Hoàn Kiếm tâm sự...
Mạch ngầm sông Ba - Kỳ cuối: Chuẩn bị cho cuộc kháng chiến chống Pháp ở An Khê

Mạch ngầm sông Ba - Kỳ cuối: Chuẩn bị cho cuộc kháng chiến chống Pháp ở An Khê

(GLO)- Tháng 10-1945, dưới sự hướng dẫn, chỉ đạo trực tiếp của Xứ ủy Trung Kỳ, Chi bộ Đảng Cộng sản Đông Dương ở tỉnh Gia Lai được thành lập, gồm 9 đảng viên, do đồng chí Nguyễn Đường làm Bí thư. Sự kiện này đã đánh dấu mốc quan trọng trong bước phát triển của phong trào cách mạng ở địa phương. Chi bộ cũng là Ban vận động thành lập Đảng bộ tỉnh Gia Lai sau này.
Lấp lánh những 'vầng trăng khuyết', Kỳ 2: Chim cánh cụt vẫn có thể bay

Lấp lánh những 'vầng trăng khuyết', Kỳ 2: Chim cánh cụt vẫn có thể bay

Từ một người khuyết tật, chị Nguyễn Thị Huyền đến từ Đắk Nông không ngừng nỗ lực vươn lên làm chủ cuộc sống, tạo việc làm cho nhiều người cùng cảnh ngộ. Chị chia sẻ: “Đẹp không chỉ ở nhan sắc, đi không chỉ nhờ đôi chân, chim cánh cụt vẫn có thể bay nếu chúng ta đủ niềm tin và nghị lực”.
Mạch ngầm sông Ba - Kỳ 3: Đối đầu với quân đội Nhật ở An Khê

Mạch ngầm sông Ba - Kỳ 3: Đối đầu với quân đội Nhật ở An Khê

(GLO)- Trước khí thế sôi sục của Nhân dân từ nông thôn đến thành thị trên cả nước đang vùng lên như nước vỡ bờ, Tri huyện Tân An Phan Sĩ Sàng đã bỏ trốn; quân đội Nhật lặng lẽ rút khỏi An Khê. Đoàn Thanh niên Chấn Hưng cử anh Trần Thông cùng một số thanh niên cốt cán vào Đồn Bảo an gặp Đội Kiệt để giải thích hiện trạng đất nước, địa phương và đề nghị giải giáp vũ khí, giải tán lính Bảo an ở huyện lỵ.
Mạch ngầm sông Ba - Kỳ 2: “Nam nhi sự nghiệp ư hồ thỉ”

Mạch ngầm sông Ba - Kỳ 2: “Nam nhi sự nghiệp ư hồ thỉ”

Ư(GLO)- Đỗ Trạc thường đọc cho bạn bè ở vùng An Sơn nghe trong giai đoạn anh từ Huế trở về quê để chờ thời, chuẩn bị cho một hành trình mới trong đời, đó là những câu đầy trăn trở trước thời cuộc: “Nào ai tỉnh, nào ai say/Lòng ta ta biết, chí ta ta hay/Nam nhi sự nghiệp ư hồ thỉ/Hà tất cùng sầu đối cỏ cây…” (Hồ Trường của Nguyễn Bá Trác-người theo phong trào Đông Du của Phan Bội Châu và phong trào Duy Tân của Phan Chu Trinh). Một số thanh niên và trí thức nông thôn ở An Khê bấy giờ đang hoang mang, đứng ở ngã ba đường. Không khí chiến tranh khá ngột ngạt bao trùm khắp nơi, các tổ chức yêu nước bị giặc khủng bố, đàn áp.
Rước rể

Rước rể

Khi cô gái Êđê muốn lấy người con trai ưng ý làm chồng, bên nhà gái phải nhờ ông mai là em trai mẹ hoặc người lớn tuổi trong dòng họ am hiểu luật tục chuẩn bị sính lễ mang đến nhà trai làm lễ hỏi chồng. Sau thời gian 'gửi dâu' từ 2 đến 3 năm, nhà trai chấp thuận sẽ đồng ý cho nhà gái tiến hành rước rể.
Mạch ngầm sông Ba - Kỳ 1: Từ lúc trong tim“bừng nắng hạ”

Mạch ngầm sông Ba - Kỳ 1: Từ lúc trong tim“bừng nắng hạ”

(GLO)- Trước khi qua đời, ông Đỗ Hằng, cán bộ tiền khởi nghĩa, nguyên Bí thư Huyện ủy An Khê (tỉnh Gia Lai) đã gửi cho chúng tôi tập tài liệu về Anh hùng Đỗ Trạc-người có công khai sáng, mở đường đầu tiên cho phong trào cách mạng An Khê với di nguyện là: Hãy viết một tập ký về người anh hùng trong kháng chiến chống Pháp trên đất An Khê. Sau nhiều tháng nghiên cứu, chấp bút, đến nay, chúng tôi cơ bản đã hoàn thành tập truyện ký về cuộc đời người con của quê hương An Khê, xin trích đăng một phần giới thiệu cùng bạn đọc.