Tìm lại nơi đã lưu giữ bài văn Tế Thập loại chúng sinh

Theo dõi Báo Gia Lai trên Google News

Trở về thăm chùa Diệc ở Nghệ An trong dịp tháng Bảy mưa ngâu, thấy ngôi chùa vẫn hoàng tàn như xưa, chỗ cỏ dại mọc xanh um, nơi thì nhà cửa đổ nát. Chợt nhớ đến những câu trong bài văn tế bất hủ của cụ Nguyễn Du: Tiết tháng bảy mưa dầm sùi sụt/Toát hơi may lạnh buốt xương khô/Não người thay buổi chiều thu/ Ngàn lau nhuốm bạc lá ngô rụng vàng…

Khắc khoải 20 năm

Những năm 1990, tôi là phóng viên báo Nghệ An và được cơ quan cấp cho nhà tập thể ở khu Quang Trung, ngay đối diện với chùa Diệc. Với chúng tôi, ngôi chùa thiêng lắm. Số là người ta nói Nghệ Tĩnh vốn là “xứ năm trăm chùa”, tính ra còn nhiều gấp đôi số chùa ở kinh thành Huế. Ấy vậy mà theo thời gian, bom đạn và sự xuống cấp về văn hóa mà chùa chiền bị tháo dỡ, hư hại hầu hết. Ở thành phố Vinh lúc ấy chỉ còn vài ngôi chùa như chùa Sư Nữ và chùa Diệc.

 

Tam quan sót lại của chùa Diệc.
Tam quan sót lại của chùa Diệc.

Tiến sĩ Phan Huy Dũng, một người bạn tâm giao và cũng là người thầy của tôi ở trường đại học Vinh thường than thở: “Tại sao người ta lại có thể để chùa Diệc hư hại như thế! Chính ngôi chùa ấy, người ta đã tìm thấy Văn tế thập loại chúng sinh”.

Những ngày cuối tuần, những dịp rảnh rỗi, chúng tôi thường băng qua đường Quang Trung để sang chơi chùa Diệc, cũng mong tìm lại một chút gì đó từ quá khứ. Nhưng tất cả còn lại chỉ là một cái cổng tam quan sứt mẻ nằm sau một khách sạn bình dân, xiêu xó vài lư hương ai đó đặt tạm dưới cổng tam quan. Những nhà thơ như bác Thạch Quỳ, nhà báo nhà thơ Văn Hiền hay thi sĩ Tuyết Nga, Bùi Sĩ Hoa… cũng đều bày tỏ nỗi lòng cám cảnh cho một địa chỉ văn hóa của thành phố Vinh.

Số là chùa Diệc vốn là nơi trí thức miền Trung quần tụ với nhau mỗi khi ghé qua Nghệ An. Chùa nằm ở trung tâm tỉnh lỵ, bên ngoài thành cổ. Các cụ nhân sĩ kể rằng chùa Diệc đã từng là điểm gặp gỡ hàn huyên, bàn bạc đại sự của những trí thức lớn một thời như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Đội Cung…  bởi vậy lễ truy điệu cụ Phan Chu Trinh của học sinh trường Quốc học Vinh đã được tổ chức tại chùa Diệc.

Chùa Diệc cũng cách quê hương Nguyễn Du là làng Tiên Điền không xa, bởi vậy người ta nói rằng chính Nguyễn Du vẫn thường qua lại ngôi chùa. Cụ Lê Thước, người nghiên cứu rất nhiều về Nguyễn Du đã lần theo dấu vết tài liệu và huyền tích mà tìm được bản văn Chiêu Hồn (văn Tế Thập loại chúng sinh) của Nguyễn Du tại chùa Diệc vào năm 1926.

Trở lại Vinh năm 2017, tôi lại nghe mọi người nói về chùa Diệc, vẫn một câu hỏi ấy: Bao giờ xây dựng lại chùa Diệc?

Một tấc lòng chung

Ngày nay, theo truyền thống, tháng Bảy âm lịch người ta thường làm lễ cầu siêu cúng các cô hồn lưu lạc vô thừa nhận nơi đầu đường xó chợ, rất nhiều làng, nhiều chùa đền miếu đã dùng bài “văn Tế Thập loại chúng sinh” của cụ Nguyễn Du để làm văn tế, cầu siêu. Lời lẽ văn chương của Nguyễn Du được khen là rung động tới những nơi sâu nhất của cuộc đời khi ông viết về những cô hồn những câu như: “Nghe gà gáy tìm đường lánh ẩn/ Tắt mặt trời lẩn thẩn tìm ra/ Lôi thôi bồng trẻ dắt già/ Có khôn thiêng nhẽ lại mà nghe kinh”.

 

Tấm bia cổ miêu tả ngôi chùa đẹp như ngôi chùa trong Hoàng thành Huế.
Tấm bia cổ miêu tả ngôi chùa đẹp như ngôi chùa trong Hoàng thành Huế.

Ngôi chùa Diệc, nơi đã tìm ra bài văn tế ấy vốn có sự tích gì? Người Vinh kể lại rằng Nghệ An vốn là xứ gió Lào rất nắng nóng. Vào một năm trời nắng nóng quá, đến mức có đàn chim diệc bay qua đây đã kiệt sức mà rụng rời chết hết cả. Người dân thương xót, nhặt xác đàn chim gom vào một chỗ trên gò. Không ngờ, buổi tối đàn chim sống lại, cảm kích trước tấm lòng dân, đàn chim bay lên trời, xin ông trời cho mưa, thế là một trận mưa lớn kịp đổ xuống cứu muôn loài. Chỗ đất ấy được xây lên ngôi chùa, tên nôm gọi là chùa Diệc, có từ đời nhà Trần. Vào những năm hạn hán lớn, thường có lễ cầu mưa tại chùa này và nhiều năm linh ứng.

Mùa hè này, trở lại thăm chùa, khung cảnh vẫn hoang tàn như những năm 1990, chẳng khác gì nhiều! Chỉ khác trước là ngay chỗ tam quan có dựng tạm một cái điện để thờ đức Phật và là nơi cho các Phật tử tới tụng kinh.

Trong cái điện tạm bợ được dựng bằng các thanh thép, mái lớp tôn, có một tấm bia đá cổ của chùa còn sót lại. Nhà nghiên cứu lịch sử kỳ cựu Trần Đình Sơn đã dịch tấm bia này trong một tài liệu, bia có viết: “Chùa đứng riêng biệt về phía đông Bắc thành tỉnh (Nghệ An), thuộc đất Trường Ấp, Châu Hoan xưa, từ lâu đời ấp này có một am tranh. Sau khi Triều Nguyễn đóng đô ở Phú Xuân (Huế), thiết lập tỉnh Nghệ An làm trấn lớn bên phải Kinh kỳ, am thuộc về trại binh ở ngoài thành giữ gìn thờ phụng. Trước đây các vị quan lớn cai quản địa phương mỗi khi gặp hạn hán lâu ngày, đến am cầu nguyện tức thì ứng nghiệm. Đầu tiên tướng công Nguyễn Đức Cửu thay mái tranh và làm rộng ra. Tiếp theo tướng công Nguyễn Đăng Giai  lại sửa chữa rồi treo bảng ghi Diệc Cổ Tự”. Rõ là từ đời Nguyễn đã gọi chùa là chùa cổ (cổ tự) rồi.

Theo tấm bia thì trải qua sự góp công sức của rất nhiều trí thức và nhà hảo tâm mà chùa Diệc  nhiều lần được xây dựng mở rộng, tô điểm hoàn thiện đến mức “trở thành một cảnh quan to lớn của non sông. Người lễ bái, ngước mắt thấy trang nghiêm ca ngợi: thực sự rực rỡ như rừng cây quý bên nước Phật. Khách tham quan, cảm thấy thích thú, đầu óc thư thái cho rằng: huy hoàng như ngôi chùa vàng trong cung vua vậy”.

So với những gì mô tả trong tấm bia thì chỉ còn lại một cái tam quan cũ nát và một tấm bia. Tấm bia như một “nhân chứng sống” về sự tồn tại của một trung tâm văn hóa lớn bậc nhất xứ Nghệ trong quá khứ, tấm bia nay nằm giữa nền điện dựng tạm để che bức tượng đức Phật khỏi nắng mưa.

Bao giờ chim diệc lại về?

Ngày nay trong chùa chỉ còn lại mấy tòa nhà kho cấp bốn, mọi người đều sinh hoạt ở trong đó, chùa đã có một nhà sư được cử về trông nom, là một bước tiến so với vài chục năm trước.

 

Các công trình xây dựng trên đất của chùa vẫn chưa giải tỏa được.
Các công trình xây dựng trên đất của chùa vẫn chưa giải tỏa được.

Cái khách sạn xanh lè sát cổng tam quan đã được dẹp đi mà thay vào đó là những người đàn bà thành Vinh áo nâu sòng tới cổng tam quan đọc kinh. Có sự lạ ấy, theo sư Trí Không nói với phóng viên: “Trước kia vì chùa hư hại hoang vắng và nhận thức văn hóa còn chưa đầy đủ nên chính quyền đã đem đất chùa cho người ta thuê làm đủ thứ. Bây giờ thời đại khác rồi, cách nghĩ khác rồi, chính quyền đã lấy lại đất về trả cho nhà chùa”.

Nói là chùa, sự thực trung tâm chùa là một công trình xây dựng dở dang, không rõ hình thù, có lẽ là một khách sạn hoặc một nhà hàng bỏ dở. Người dân nói với phóng viên: “Nhiều người thấy đất chùa trống trải nên thuê mướn chính quyền, tính làm giàu, nhưng đa số thất bại”.

Sư Trí Không bảo: “Chùa chúng tôi chẳng có chỗ ở, chẳng có điện thờ, mọi thứ đều chỉ là tạm bợ. Vì người ta thuê đất, xây dựng một số công trình, bây giờ họ đòi chùa phải bồi thường số tài sản mà họ xây trên đất nhà chùa! Mong chính quyền sớm giải quyết vấn đề đền bù theo đơn giá nhà nước, để chùa có thể tiến hành tôn tạo, xây dựng và hoạt động văn hóa”.

Các cô các bác giúp sư những việc vặt trong chùa hoặc thường tới tụng kinh là người dân sống xung quanh chùa Diệc. Một vài người tôi cũng biết trước đây, kẻ bán hàng ở ga Vinh người chạy chợ. Nom dáng vẻ tóc da phôi pha theo thời gian nhưng nụ cười tươi và tinh thần thật nhẽ nhõm.  Các cô các bác nói: “Hồi trẻ bon chen làm ăn buôn bán, đầu óc chỉ nghĩ đến đồng tiền! bây giờ theo Phật pháp sống cùng đạo tràng, không muốn ganh đua, bỏ xa chữ lợi, các cô các bác đã về đây mấy năm sớm tối đèn nhang, để người dân có thêm chốn đi về”.

Mọi người dẫn tôi ra công cổng tam quan vỡ, chỉ cho tôi thấy một gò đất cao, cỏ dại mọc um tùm chỉ một lối nhỏ in dấu chân người. Phải chăng đó chính là gò đất mà những con chim diệc chết khát đã sống lại rồi bay đi tìm mưa giúp người thành Vinh trong huyền tích cũ? Các cô bác trong chùa cũng đều than rằng: Đàn chim diệc đã bay đi từ lâu và chưa biết bao giờ chúng sẽ trở về chốn cũ.

Trần Nguyễn Anh/tienphong

Có thể bạn quan tâm

Mùa săn kiến vàng

Mùa săn kiến vàng ở cao nguyên Gia Lai

(GLO)- Khi mùa khô phủ nắng lên những cánh rừng phía Tây Gia Lai, người Jrai bước vào mùa săn kiến vàng. Hành trình tìm kiếm những tổ kiến tuy nhọc nhằn nhưng cũng thú vị, thể hiện sự gắn bó giữa đồng bào dân tộc thiểu số với thiên nhiên từ xưa đến nay.

Ngày mới bên sông Pô Cô

E-magazine Ngày mới bên sông Pô Cô

(GLO)- Sớm mai ở Ia Krái, dòng Pô Cô uốn lượn như dải lụa bạc giữa mênh mông cây cối. Nước sông lăn tăn, gợn sóng nhỏ vỗ vào bãi cát vàng, len qua vườn rẫy, tạo thành một bản hòa ca của thiên nhiên và con người.

Giữ cây thuốc quý giữa đại ngàn An Toàn

Giữ cây thuốc quý giữa đại ngàn An Toàn

(GLO)- Tự xa xưa người Bahnar ở đại ngàn An Toàn (tỉnh Gia Lai) đã biết sử dụng nhiều loài cây rừng để làm thuốc chữa bệnh. Kinh nghiệm được chắt lọc qua nhiều thế hệ, không chỉ chăm sóc sức khỏe cộng đồng mà còn thể hiện sự am hiểu sâu sắc về tự nhiên, góp phần gìn giữ giá trị y học dân gian.

Xây dựng thế trận lòng dân nơi tà đạo "Hà Mòn" đi qua - Kỳ cuối: Xây dựng thế trận lòng dân- tường lửa ngăn tà đạo

E-magazine Xây dựng thế trận lòng dân nơi tà đạo "Hà Mòn" đi qua - Kỳ cuối: Xây dựng thế trận lòng dân- tường lửa ngăn tà đạo

(GLO)- Ba đối tượng cốt cán cuối cùng của tà đạo “Hà Mòn” bị bắt giữ tại khu vực núi Jơ Mông (giáp ranh xã Hra và xã Lơ Pang) vào ngày 19-3-2020 đã đánh dấu bước ngoặt quan trọng, khép lại hành trình đấu tranh kéo dài hơn một thập kỷ.

'Sói biển' Lý Sơn và hành trình nối biển ra Hoàng Sa

'Sói biển' Lý Sơn và hành trình nối biển ra Hoàng Sa

Ở đặc khu Lý Sơn (Quảng Ngãi), lão ngư Dương Minh Thạnh được nhiều ngư dân gọi là “lão ngư Hoàng Sa” bởi có công “nối biển” Lý Sơn ra quần đảo Hoàng Sa. Ông còn được mệnh danh là “sói biển” Lý Sơn, bởi sức vươn khơi dẻo dai, từng 5 lần thoát chết thần kỳ giữa bão biển.

Thúng chai lên phố

Thúng chai lên phố

Nghề đan thuyền thúng bằng tre (thúng chai) dùng để đi biển đánh bắt hải sản sau hàng trăm năm giờ đang dần mai một. Những ngư dân miền Trung vẫn âm thầm bám nghề bằng tình yêu mưa nắng đời người, và ngày càng nhiều những chiếc thúng chai rời biển về phố làm du lịch.

Những chuyện tình xuyên biên giới ở Ia O

Những chuyện tình xuyên biên giới ở Ia O

(GLO)- Trên vùng biên Ia O (tỉnh Gia Lai), dòng Pô Cô vừa là ranh giới tự nhiên, vừa là nhịp cầu kết nối lương duyên. Từ những lần qua lại thăm thân, dự lễ hội, nhiều mối tình nảy nở, hình thành nên những mái ấm xuyên biên giới bình dị, bền bỉ, góp phần dệt nên diện mạo riêng nơi phên giậu Tổ quốc.

Làng bồng bềnh trên dòng Pô Kô

Làng bồng bềnh trên dòng Pô Kô

Giữa miền biên viễn phía tây Gia Lai, trên dòng Pô Kô hùng vĩ, hàng chục gia đình từ Tây Nam bộ tìm đến lập nghiệp, dựng nên những căn nhà nổi chông chênh giữa sóng nước. Cuộc mưu sinh lặng lẽ thể hiện nghị lực của con người, ý chí bám trụ và khát vọng sống chan hòa cùng sông nước.

Bấp bênh xóm chài vùng biên

Bấp bênh xóm chài vùng biên

(GLO)- Xóm chài trên mặt hồ thủy điện Sê San (làng Tăng, xã Ia O) hiện có 17 hộ với 58 nhân khẩu, đến từ các tỉnh ở miền Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ. Không đất ở, thiếu giấy tờ tùy thân, họ tự dựng nhà bè, bám lấy con nước để mưu sinh.

Đêm đập trống dưới ánh trăng rừng

Đêm đập trống dưới ánh trăng rừng

Giữa vùng lõi của Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng, nơi núi đá vôi dựng đứng như những bức tường thành và rừng già nối tiếp đến tận biên Việt - Lào, có một lễ hội mà mỗi nhịp trống vang lên dường như làm nghiêng ngả cả đại ngàn: Lễ hội Đập trống của người Ma Coong.

'Rừng thiêng' giữa đại ngàn

'Rừng thiêng' giữa đại ngàn

Giữa đại ngàn Trường Sơn hùng vĩ, nơi mây trắng quấn quýt những đỉnh núi của vùng cao Đà Nẵng, có một cánh rừng không chỉ xanh bởi lá, mà còn xanh bởi ký ức. Người dân gọi đó là 'rừng bác Năm Công'.

Cán bộ trại giam động viên, chia sẻ với phạm nhân.

Tình người sau cánh cổng trại giam

(GLO)- Từ những câu chuyện rất thật của người trong cuộc, có thể thấy tính nhân văn trong công tác giáo dục, cải tạo phạm nhân tại Trại tạm giam số 1, Công an tỉnh Gia Lai. Đó là nơi cán bộ, chiến sĩ đang kiên trì cảm hóa những người lầm lỗi bằng trách nhiệm và lòng nhân ái.

Vị linh mục hiến kế chống Pháp

Vị linh mục hiến kế chống Pháp

(GLO)- “Chuyện giặc Pháp xâm lăng ngang ngược, xin ra lịnh cho người có đạo giúp nước lập công, ai phản nghịch sẽ giết cả họ. Kẻ có đạo dù có thịt nát xương tan cũng cố báo đền ơn nước, quyết chẳng hai lòng”.

null