Tây Nguyên trong mùa xuân toàn thắng - Kỳ 1: Đòn điểm huyệt

Theo dõi Báo Gia Lai trên Google News
(GLO)- Chiến dịch Tây Nguyên diễn ra cách đây đúng 45 năm được xem là đòn chiến lược then chốt mở đầu cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975. Thắng lợi của chiến dịch đã mở ra thời cơ trực tiếp để quân và dân ta tiến lên thực hiện quyết tâm giải phóng miền Nam ngay trong năm 1975.  
Nhật báo Le Monde (Pháp) số ra ngày 21-3-1975 viết: “Chỉ trong vài ngày, bản đồ quân sự miền Nam Việt Nam đã đảo lộn. Chỉ có trận Buôn Ma Thuột mà từng mảng cấu trúc do chế độ Thiệu dựng lên bị sụp đổ. Hóa ra, Buôn Ma Thuột mang cái đà của một bước ngoặt trong cuộc xung đột, đến nay đã được 30 năm…”.
QUYẾT ĐỊNH MỞ CHIẾN DỊCH
Tháng 3-1975, hoa pơ lang vẫn nở đỏ trời. Đâu đó, tiếng chiêng vẫn vờn mặt nước. Mùa rẫy mới sắp bắt đầu với những cụm khói mỏng manh như tơ giữa trời xanh ngăn ngắt. Song cái vẻ bình yên ấy dường như có một cảm giác mong manh, một cái gì đang sắp sửa diễn ra. Sự linh cảm của người dân sống trên dải đất bazan mênh mông này một lần nữa lại đúng trong cái tháng đẹp nhất cao nguyên.
…Đêm 25-2-1975, tại Sở Chỉ huy chiến dịch đóng giữa một cánh rừng già cách buôn Ya Wầm khoảng 3 km về phía Đông Đak Lak, Đại tướng Văn Tiến Dũng đại diện Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng Tư lệnh và Bộ Tư lệnh chiến dịch do Trung tướng Hoàng Minh Thảo làm Tư lệnh, Đại tá Đặng Vũ Hiệp làm Chính ủy quyết định mở Chiến dịch Tây Nguyên, chọn thị xã Buôn Ma Thuột để đánh trận then chốt cùng phương án tác chiến, quyết tâm chiến dịch đã được ký thông qua.
Theo kế hoạch, Chiến dịch Tây Nguyên sẽ diễn ra với những trận đánh hiệp đồng binh chủng quy mô lớn. Để tạo đòn điểm huyệt bất ngờ, trước hết phải nhử địch tập trung về hướng Kon Tum, Pleiku; đánh chiếm, cắt đứt các đường 14, 19, 21 nhằm cô lập địch ở Tây Nguyên với đồng bằng; bao vây, vô hiệu hóa lực lượng chủ yếu của chúng tại Pleiku, Kon Tum; tập trung lực lượng chiến dịch đánh chiếm thị xã Buôn Ma Thuột; phát triển tiến công Cheo Reo, Gia Nghĩa, giải phóng 3 tỉnh Tây Nguyên; chiếm lĩnh địa bàn chiến lược trọng yếu để tạo điều kiện và thời cơ tiến công các hướng khác theo yêu cầu chiến lược… Các đơn vị được huy động cho chiến dịch gồm các Sư đoàn: 10, 320, 316, 968; Trung đoàn Đặc công 198, Trung đoàn Tăng thiết giáp 273 cùng 4 trung đoàn bộ binh khác.
Ngày 25-2-1975, tại một cánh rừng ở Đak Lak, Đại tướng Văn Tiến Dũng và Bộ Tư lệnh chiến dịch họp, quyết định mở Chiến dịch Tây Nguyên (Ảnh tư liệu).
Ngày 25-2-1975, tại một cánh rừng ở Đak Lak, Đại tướng Văn Tiến Dũng và Bộ Tư lệnh chiến dịch họp, quyết định mở Chiến dịch Tây Nguyên (Ảnh tư liệu).
LẠC GIỮA TRẬN ĐỒ…
“Những ngày đầu tháng 1-1975, chúng tôi đã nhận được lệnh chuẩn bị cho một chiến dịch lớn nhưng cụ thể thì chưa biết diễn ra ở đâu”-hồi ức của cố Đại tá Phạm Chào-nguyên Cục trưởng Cục Chính trị Quân đoàn 3, lúc bấy giờ là Chính trị viên Tiểu đoàn 9 (Trung đoàn 66, Sư đoàn 10) nhắc nhớ. Những hoạt động nghi binh-cả một số cán bộ, chiến sĩ lúc bấy giờ cứ tưởng là thật diễn ra dồn dập: Máy vô tuyến 15W bật hết công suất, liên tục phát đi các mệnh lệnh chuẩn bị tấn công địch ở vị trí nọ, vị trí kia. Rồi những trận địa giả được dựng lên khắp nơi. Đêm đêm những đoàn xe tải, xe kéo pháo bật đèn rầm rập chạy về hướng Kon Tum. Tại thị trấn Tân Cảnh, những khẩu hiệu đại loại “Nhiệt liệt chào mừng bộ đội về giải phóng Kon Tum”, “Quyết tâm giải phóng thị xã Kon Tum” được căng khắp nơi. Cùng với đó, những trận đánh nhỏ trên các tuyến đường 14, 19 diễn ra dồn dập. Nhân dân trong vùng giải phóng nô nức, dân trong vùng thị xã rục rịch chuẩn bị tản cư. Ai cũng tin chắc một trận tấn công tổng lực vào Kon Tum đang sắp sửa... Những hoạt động nghi binh khéo léo đã đánh lừa được địch. Tin chắc thị xã Kon Tum sắp bị tấn công, tướng Phạm Văn Phú-Tư lệnh Quân khu II vội vã điều 4 liên đoàn biệt động đến tăng cường, đồng thời đưa thêm liên đoàn biệt động 23 và 2 trung đoàn 44, 45 về phòng ngự Pleiku.
Trong khi đó, đại quân ta lần lượt bí mật hành quân về hướng Buôn Ma Thuột, chỉ để một bộ phận nhỏ ở lại tiếp tục làm công việc nghi binh. Vẫn theo hồi ức của cố Đại tá Phạm Chào: “Chúng tôi hành quân bộ 1 ngày, sau đó bằng xe cơ giới. Tới vị trí tập kết, bụi đường quyện với mồ hôi trên người chúng tôi rộp lên, bong ra như chiếc bánh đa. Chỉ cách Buôn Ma Thuột từ 15 đến 20 km nhưng bọn thám báo, máy bay địch suốt ngày quần đảo mà chẳng phát hiện được gì. Không những thế, năm ấy, chúng tôi còn tổ chức được một cái Tết khá tươm tất: Mỗi người có một chiếc bánh chưng, một gói ruốc thịt, nửa gói Tam Đảo và kẹo Hải Châu chuyển từ hậu phương vào. Trong lán trại, chúng tôi còn bày cả bàn thờ, viết câu đối, chặt mai rừng về cắm. Một không khí phấn khởi, lạc quan bao trùm…”. Frank Snepp-nhân viên phân tích chiến lược của CIA-sau này đã viết trong “Cuộc tháo chạy tán loạn”: “Ở sứ quán Mỹ tại Sài Gòn, chúng tôi không hề biết Đại tướng Văn Tiến Dũng đang ở miền Nam Việt Nam, lại cũng không hề biết ông ấy đặt sở chỉ huy ở Buôn Ma Thuột và đang chuẩn bị tiến công thị xã. Quân tiếp viện Bắc Việt Nam kéo vào vùng này không hề ai hay biết…”.
ĐÒN CHOÁNG VÁNG
Từ ngày 8 đến 10-3-1975, sau khi tiêu diệt quận lỵ Thuận Mẫn và Đức Lập, lúc 6 giờ 30 phút ngày 10-3, pháo binh ta bắt đầu trút bão lửa xuống các mục tiêu, mở đường cho 5 cánh quân ào ạt tấn công thị xã Buôn Ma Thuột. Kho Mai Hắc Đế, Sân bay Hòa Bình, Sở chỉ huy Sư đoàn 23 ngụy… rung chuyển trước sức tấn công mạnh mẽ bởi các binh chủng hợp thành của ta. Đại tá Nguyễn Trọng Luật-Chỉ huy trưởng tiểu khu Đak Lak hoảng sợ bỏ trốn sang hầm ngầm của Phó Tư lệnh Sư đoàn 23 Vũ Thế Quang… Trải qua một ngày chiến đấu ác liệt, 2 trong 3 mục tiêu quan trọng của địch ở thị xã Buôn Ma Thuột gồm Sở chỉ huy tiểu khu Đak Lak, sân bay thị xã đã bị quân ta chiếm phần lớn. Sư đoàn 23 ngụy bị vây chặt. Toàn bộ quân địch trong thị xã hoang mang, dao động… Chớp thời cơ, sau 1 đêm củng cố đội hình, bổ sung phương án tác chiến, sáng 11-3, các cánh quân của ta đồng loạt nổ súng tấn công đợt 2. Đến 10 giờ, ngọn cờ chiến thắng của ta đã tung bay trên nóc Sở chỉ huy Sư đoàn 23 ngụy. Đại tá Nguyễn Trọng Luật cùng Vũ Thế Quang cải trang chạy trốn nhưng không thoát. Buôn Ma Thuột-thủ phủ của Tây Nguyên với 12 vạn dân đã được giải phóng.
“Đã từng đương đầu với mọi phương tiện chiến tranh hiện đại của địch, vậy mà vào thị xã chúng tôi vẫn phải sửng sốt trước sự hùng hậu của guồng máy chiến tranh ấy”-cố Đại tá Phạm Chào nhớ lại. Trên 3.000 súng các loại, trong đó có 42 khẩu pháo lớn, hơn 760 xe cơ giới, hàng triệu lít xăng dầu, hàng vạn tấn đạn bị ta thu giữ, chưa kể số bị phá hủy; quân trang, quân dụng ngổn ngang, lương thực, thực phẩm đủ sức nuôi cả quân đoàn ta hàng tháng trời… Đây cũng là điều minh chứng cho việc giải phóng Buôn Ma Thuột không hề dễ dàng như có người lầm tưởng. Trận tấn công Sân bay Hòa Bình, kho Mai Hắc Đế, Ngã sáu, Căn cứ 53…, bộ đội ta hy sinh không ít. Kết thúc trận đánh chỉ có 197 người nguyên vẹn. Làm chủ một guồng máy chiến tranh hùng hậu, hiện đại nhưng sự sai lầm về mặt chiến lược của địch đã không thể vớt vát nổi sự chống cự tuyệt vọng của binh sĩ chúng. Trong khi quân ta với khí thế “Trường Sơn chuyển mình, Pô Cô dậy sóng”, người trước ngã, người sau tiến; không một ai thoái lui, run sợ… Và sự giúp đỡ của nhân dân, không chỉ về mặt tinh thần mà còn là hiệu quả thực tế trong từng trận đánh.
NGỌC TẤN

Có thể bạn quan tâm

Đại tướng Nguyễn Chí Thanh và bút danh 'Hạ sĩ Trường Sơn'

Đại tướng Nguyễn Chí Thanh và bút danh 'Hạ sĩ Trường Sơn'

No thành Phật, thành Tiên, đói thành ma, thành quỷ. Đánh có thắng được giặc, dân mới no, mới ấm, quân mới hùng, mới mạnh. Giữ được mùa màng, thì dân, quân mới tạm đủ ăn no để thắng giặc và xây dựng lực lượng hùng hậu. Trung tâm công tác của ta là đó. Trung tâm tư tưởng cụ thể của ta là đó.
Trăm năm vó ngựa thị thành: Lò ngựa lẫy lừng

Trăm năm vó ngựa thị thành: Lò ngựa lẫy lừng

Miền Nam có nhiều nơi nuôi ngựa, nhưng nơi tập trung đông nhất, sản sinh nhiều chiến mã nhất là H.Đức Hòa, Long An. Thời cực thịnh, Sài Gòn và các tỉnh lân cận có đến 4.000 con ngựa, trong đó khoảng 1.200 con tham gia đua thì ngựa từ những lò ở H.Đức Hòa, Long An luôn chiếm đa số.
Nỗi buồn làng chiếu

Nỗi buồn làng chiếu

Từng suy rồi thịnh, từng có cả trăm hộ làm nghề nhưng rồi bây giờ khung dệt bụi phủ, tay người chênh chao. Nỗi niềm của làng chiếu chẳng mấy người thấu tỏ khi chỉ duy nhất một bà lão còn dệt chiếu, nhưng cũng đầy chông chênh.
Biên cương hữu nghị: Nghĩa tình La Lay

Biên cương hữu nghị: Nghĩa tình La Lay

Đường biên có thể phân chia lãnh thổ 2 nước Việt - Lào nhưng không hề làm lòng người xa cách. Ở La Lay, vùng đất biên cương của Quảng Trị giáp với nước bạn Lào, là một nơi như vậy, nhất là khi có bóng dáng của những người lính biên phòng đồn trú.
Gặp những 'kình ngư' giữa vựa cá Biển Đông

Gặp những 'kình ngư' giữa vựa cá Biển Đông

Tên thật của bạn thuyền họ hoàn toàn không biết, thậm chí đến tên thật của mình đôi khi cũng nhớ nhớ quên quên, nhưng với quần đảo Trường Sa họ lại thuộc như lòng bàn tay, bởi đơn giản nơi ấy là ngư trường truyền thống, là cương thổ quốc gia…
Trường Sa! Tiếng gọi thẳm sâu nơi lòng biển - Bài 2: Những hòn ngọc giữa trùng khơi

Trường Sa! Tiếng gọi thẳm sâu nơi lòng biển - Bài 2: Những hòn ngọc giữa trùng khơi

Trường Sa có những đảo nổi, đảo chìm. Không biết ai đặt tên tự bao giờ, chỉ nghe thôi đã rất ấn tượng: Cô Lin, Đá Đông, Đá Tây, Len Đao, Đá Lát, Đá Lớn, Tốc Tan… Gọi là đảo chìm vì được tạo thành từ những rạn san hô hóa thạch, miệng núi lửa rộng hàng chục cây số vuông chìm dưới nước khi triều lên.
Hậu trường bếp núc trên tàu Kiểm ngư 491

Hậu trường bếp núc trên tàu Kiểm ngư 491

Lênh đênh suốt một tuần trên biển, vượt qua cả ngàn hải lý, tàu Kiểm Ngư 491 trở thành ngôi nhà của chúng tôi. Hôm qua còn xa lạ nay đã thấy thân gần. Mỗi sớm mai hay khi chiều buông, gặp ai trên boong tàu đều đọng lại những nụ cười.
Biên cương hữu nghị: Từ mạch nguồn Sê Păng Hiêng

Biên cương hữu nghị: Từ mạch nguồn Sê Păng Hiêng

Không phải người Quảng Trị nào cũng biết đến dòng Sê Păng Hiêng. Bởi đó là dòng sông nhỏ bắt nguồn từ dãy Trường Sơn, không chảy về phía đông như thường thấy mà chảy về phía tây. Nhưng dòng sông chảy ngược lạ lùng ấy đã trở thành chứng nhân cho tình bằng hữu quân dân giữa đôi bờ biên giới.