Tấm lòng người làm lồng đèn truyền thống

Theo dõi Báo Gia Lai trên Google News
Sau những gian hàng lồng đèn ồn ào, tấp nập mùa Trung thu là bao năm thao thức thầm lặng của các nghệ nhân, miệt mài, tỉ mỉ với từng công đoạn để thế hệ nào cũng có ký ức đẹp về những đêm trăng vàng với chiếc lồng đèn truyền thống rực rỡ trên tay.

7 năm phục dựng lồng đèn cổ

Làng nghề truyền thống Phú Bình (nằm giáp ranh quận 11 và quận Tân Phú, TPHCM) những ngày này tất bật sáng đêm gia công hàng ngàn chiếc lồng đèn giấy kiếng. Những khâu đầu tiên được chuẩn bị vào khoảng Tết Nguyên đán mới kịp những đơn hàng lớn được đặt từ khắp cả nước mùa Trung thu.

Mẫu lồng đèn cổ “cá hóa long” được phục dựng.

Mẫu lồng đèn cổ “cá hóa long” được phục dựng.

Những nghệ nhân lớn tuổi ở đây hầu hết được truyền nghề từ nhiều đời, bắt nguồn từ làng làm lồng đèn Báo Đáp nổi tiếng ở Nam Định. Khi vào Nam, họ mang theo những mẫu lồng đèn cổ nổi tiếng tinh xảo. Tuy nhiên, giai đoạn 1940-1950, chiến tranh, cuộc sống khó khăn, nguyên liệu bị đứt nguồn cung, hầu hết các mẫu lồng đèn cổ vì thế bị thất truyền.

Các mẫu lồng đèn cổ của làng Báo Đáp từng được trưng bày ở bảo tàng tại Hà Nội, nhưng theo thời gian, chỉ còn những tấm ảnh chụp là lưu giữ lại ký ức những chiếc lồng đèn xưa. Với mong muốn phục dựng những chiếc lồng đèn cổ mà ngày bé có dịp ngắm nhìn, nhà nghiên cứu văn hóa Trịnh Bách đã lặn lội khắp nơi với hành trang là vài tấm ảnh, hình vẽ tư liệu trắng đen, mờ nhòa.

Rồi có người mách ông vào làng Phú Bình hỏi thử. Ban đầu, ai cũng từ chối, mãi khi ông gặp được gia đình nghệ nhân Nguyễn Trọng Văn, vốn là người từ làng Báo Đáp, có hơn 60 năm kinh nghiệm làm lồng đèn. Lúc này, tuổi ông Văn đã cao, nhưng với lòng yêu nét đẹp cổ xưa, ông đã nhận lời cùng các con và nhà nghiên cứu Trịnh Bách phục dựng các mẫu lồng đèn này.

“Các mẫu đèn cổ vốn rất công phu, tinh xảo, rất nhiều chi tiết, và phải làm chính xác 100% để tôn trọng thiết kế của ông bà mình xưa. Mình hoàn toàn không biết về kỹ thuật, chất liệu ngày ấy, hình ảnh thì chỉ có vài góc độ. Phải thử từng thứ một, sai là bỏ hết làm lại, bỏ không biết bao nhiêu mà kể, cần nhiều thời gian, tỉ mỉ, tốn kém lắm”, nghệ nhân Nguyễn Trọng Thành (57 tuổi, con trai nghệ nhân Trọng Văn) lý giải.

Cũng vì thế, phục dựng chỉ 1 mẫu lồng đèn cổ đã tốn vài năm kiên trì. Như mẫu lồng đèn con cua, chỉ riêng khâu dùng nứa tạo khung đã mất 1 năm, vì phải phục dựng từng đốt trong số 8 cẳng 2 càng sao cho mềm mại nhưng vẫn có độ cứng nhất định. Rồi khâu dán lụa phải tính toán xem người xưa dùng chất liệu gì để bám keo bền 5-10 năm, khi vẽ phải lên màu đẹp nhất. Nhiều chất liệu cảm quan giống hồi xưa nhưng thực chất lại không phải. Tương tự, với khâu vẽ, tốn hơn 1 năm để “chốt” mẫu cua đỏ (cua luộc), và bắt đầu làm thêm mẫu cua xanh (cua sống). Khâu này nhà nghiên cứu Trịnh Bách phải túc trực ở TPHCM, dùng trí nhớ của mình truyền đạt lại cho các nghệ nhân vì các ảnh tư liệu chỉ trắng đen, không thể hiện màu sắc. Công đoạn cuối cùng là khâu trang trí, gồm gắn mắt, lông, dán các chi tiết bằng giấy, phun dầu bóng, keo cho mẫu được lung linh khi thắp đèn và giữ được lâu. Đèn thắp bên trong cũng phải làm loại nến to, đựng trong chén và tính toán vị trí lắp vào để sáng đều, mẫu được lung linh nhất. Chỉ riêng mẫu con cua, ông Bách và các nghệ nhân đã kiên trì ròng rã 3 năm mới ưng ý, đưa ra trưng bày.

Cứ thế, mất khoảng 7 năm liên tục (từ 2017-2023), nhà nghiên cứu và các nghệ nhân mới khôi phục được 8 trên 10 mẫu lồng đèn cổ, gồm: cá hóa long, cá chép, cua sống - cua luộc, bộ tam đa (đào - lựu - phật thủ), củ tỏi… “Càng làm, càng thấy khâm phục ông bà ta trong thời buổi khó khăn mà vẫn làm được những mẫu lồng đèn kỳ công như vậy. Mình càng quý và quyết tâm phục hồi nó”, nghệ nhân Trọng Thành bày tỏ.

Thao thức với lồng đèn truyền thống

Mùa Trung thu, dù tất bật với những đơn hàng lồng đèn, các nghệ nhân làng Phú Bình vẫn không giấu được bồi hồi: đâu chỉ có lồng đèn cổ, chính những mẫu đèn giấy kiếng phổ thông trẻ con chơi ngày nay cũng đi qua lắm thăng trầm. Năm 2004, khi lồng đèn điện tử bùng nổ trên thị trường, lồng đèn giấy kiếng tưởng đã hết thời. Cả gia đình ông Văn dù có người đã lớn tuổi cũng đành tìm nghề khác sống. Mãi đến 9 năm sau, các đại lý cũ bất ngờ quay lại, động viên gia đình làm lại. Ông Thành kể: “Họ quý nhà mình làm đẹp, chất lượng có tiếng, cam kết mình làm bao nhiêu họ lấy hết. Mấy anh em cũng thương nhớ cây đèn truyền thống của cha mẹ để lại, nên quay lại làm”.

Nhưng thời đại đã thay đổi, không thể cứ làm như cũ, cả nhà bắt đầu nghiên cứu cải tiến lồng đèn truyền thống, như làm sao để đèn có thể xếp lại, thuận tiện cho vận chuyển số lượng lớn nhưng phải dễ bung ra để khách hàng có thể tự làm tại nhà. Rồi màu vẽ cũng phải làm sao để bám chắc hơn, phối màu thế nào để dù đèn chưa thắp nến cũng vẫn thấy sáng sủa, còn khi thắp phải sáng đều, lấp lánh, bắt mắt từ xa… Các hộ làm đèn cũng dần tìm cách tạo nét riêng cho mỗi nhà, cũng cây đèn con cá, con thỏ, giá chỉ vài chục ngàn đồng nhưng mỗi nơi có nét vẽ khác biệt, cách làm khung độc quyền… tạo sự đa dạng cho thị trường lồng đèn.

“Đây là cái nghề của mình, muốn nó tồn tại, phát triển phải không ngừng nâng cao tay nghề, nghiên cứu, cải tiến, thử những mẫu thật khó, thật đẹp, không thể lặp đi lặp lại các kiểu đơn giản mãi được”, nghệ nhân Nguyễn Trọng Bình (47 tuổi, con trai ông Trọng Văn), chia sẻ.

Tại Hội lồng đèn Huế tổ chức tại Phủ Nội vụ, Đại nội Huế, gia đình nghệ nhân Nguyễn Trọng Văn đã giới thiệu 10 mẫu lồng đèn mới làm bằng giấy kiếng, vải lụa (tùy điều kiện trưng bày). Các mẫu này dựa trên ý tưởng của lồng đèn cổ làng Báo Đáp, nhưng sáng tạo theo hướng cách tân, hiện đại…“Những loại trưng bày trong bảo tàng này vốn không làm vì mục đích kinh doanh, chúng tôi dùng doanh thu bán đèn giấy kiếng phổ thông để “nuôi” dòng này, nhưng vẫn phải làm tới nơi tới chốn để con cháu mai sau biết ta từng có lồng đèn truyền thống đẹp như thế nào”, nghệ nhân Nguyễn Trọng Bình chia sẻ.

Theo TÂM HIỀN (SGGPO)

Có thể bạn quan tâm

Lưu giữ ký ức thời hoa lửa bằng công nghệ

Lưu giữ ký ức thời hoa lửa bằng công nghệ

(GLO)- Chiến tranh đã lùi xa hơn nửa thế kỷ. Những người trực tiếp đi qua những năm tháng khốc liệt ấy, nay đều đã ở tuổi xế chiều. Nhưng thời gian không chờ đợi ai. Khi những nhân chứng dần vắng bóng, cũng là lúc nhiều mảnh ghép ký ức về lịch sử dân tộc không còn cơ hội được kể lại.

Lộ Diêu vươn mình từ gian khó

Lộ Diêu vươn mình từ gian khó

(GLO)- Trước đây, Lộ Diêu (phường Hoài Nhơn Đông) như một thế giới tách biệt với bên ngoài. Ðặc trưng địa hình và cuộc sống của người dân nơi đây được đúc kết qua câu: “Lộ Diêu một biển ba đèo - Gian nan đã vượt, khó nghèo đã qua”.

Làng xưa nay đã đổi thay

Làng xưa nay đã đổi thay

(GLO)- Sau khi về định cư ở vùng đất mới, cuộc sống của người dân 4 làng Plei Pông, Kinh Pêng, Plei Trớ và Plei Hek thuộc xã Chư A Thai (là các làng căn cứ cách mạng trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, còn gọi là 4 làng Ðồn) đã có nhiều đổi thay rõ nét.

Mang con dấu đến bản

Mang con dấu đến bản

Hai đứa con đã 15 và 13 tuổi, nhưng lần đầu tiên, vợ chồng anh Moong Văn Phong mới đi làm khai sinh cho con khi Trung tâm Phục vụ hành chính công xã Nhôn Mai (Nghệ An) mang con dấu đến tận bản để làm thủ tục cho dân.

Những dáng lính vùng biên

Những dáng lính vùng biên

(GLO)- Tôi gặp những người lính trên những chuyến tàu tuần tra ngoài khơi xa, giữa những hải trình dọc dài duyên hải đồng hành, làm chỗ dựa bảo vệ ngư dân và giữ gìn an ninh trật tự trên biển quê hương; gặp họ giữa những vùng biên giới Campuchia heo hút đầy nắng gió.

Ruổi rong đời chăn vịt

Ruổi rong đời chăn vịt

(GLO)- Sau mỗi mùa gặt, những cánh đồng lúa ở các xã An Lương, An Hòa, An Vinh, Tuy Phước… lại rộn ràng bởi đàn vịt hàng nghìn con tìm về kiếm ăn. Gắn với đàn vịt, những người chăn vịt miệt mài rong ruổi qua nhiều cánh đồng, lấy mùa gặt làm nhịp mưu sinh.

Trầm tích sông Ba

Trầm tích sông Ba

(GLO)- Sông Ba đoạn qua xã Ia Dreh (tỉnh Gia Lai) mùa khô, vài con thuyền đánh cá nằm gối đầu nghỉ ngơi trên những doi cát. Chiều xuống, từ những bến sông, người dân vẫn ra tắm mát dù nước cạn tới mức có thể lội ra giữa dòng.

Nửa đời tìm cha, một đời lưu giữ ký ức

Nửa đời tìm cha, một đời lưu giữ ký ức

(GLO)- Hơn nửa thế kỷ sau chiến tranh, cựu chiến binh Trần Duy Đức vẫn lặng lẽ đi tìm những mảnh ghép của quá khứ. Từ hành trình tìm lại hình bóng người cha liệt sĩ, ông dành cả cuộc đời sưu tầm, ghi chép và lưu giữ lịch sử quê hương cùng những câu chuyện về những con người đã làm nên lịch sử.

Cạm bẫy ma tuý mới "pod chill" - Bài 2: Từ thuốc gây mê y khoa đến bẫy ma túy núp bóng pod chill

Cạm bẫy ma tuý mới "pod chill" - Bài 2: Từ thuốc gây mê y khoa đến bẫy ma túy núp bóng pod chill

Cầm trên tay chiếc “pod chill” nhỏ gọn, tỏa ra mùi hương trái cây ngọt ngào, nhiều bạn trẻ hồn nhiên nghĩ rằng mình chỉ đang dùng một sản phẩm giải trí thời thượng. Nhưng đằng sau làn khói thơm ấy lại là Etomidate - một hoạt chất gây mê y học bị giới tội phạm “biến tướng” thành ma túy nguy hiểm.

Những dấu vết bí ẩn ven sông Ba

Những dấu vết bí ẩn ven sông Ba

(GLO)- Men theo bờ sông Ba đoạn chảy qua buôn Tơnia (xã Ia Rsai, tỉnh Gia Lai), khi nắng cuối ngày hắt những tia vàng lấp lánh trên mặt nước, chúng tôi bắt gặp những vật thể lạ nhô lên khỏi lớp đất sét. 

Chị Djen giới thiệu những chùm răng rẽl vừa thu hái

Theo mùa răng rẽl

(GLO)- Mưa như trút nước xuống những cánh rừng ở xã Ðăk Sơmei sau nhiều tháng nắng khô khốc. Những cung đường rừng trơn như đổ mỡ, loang lổ vệt bánh xe máy trượt ngang. Thỉnh thoảng, giữa nền đường đỏ quạch sót lại vài chùm răng rẽl xanh mướt rơi vãi, dấu vết của những chuyến trở về từ rừng.

Ký ức không phai của nữ Anh hùng Kpă Ó

Ký ức không phai của nữ Anh hùng Kpă Ó

(GLO)- Chiến tranh đã lùi xa hơn nửa thế kỷ nhưng trong ngôi nhà nhỏ ở làng Bạc 1 (xã Chư Prông, tỉnh Gia Lai), ký ức về một thời hoa lửa vẫn vẹn nguyên qua từng câu chuyện của bà Kpă Ó - nữ Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân duy nhất ở khu vực phía Tây tỉnh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ.

null