Thời gian vô tình chạy nhanh như cơn lốc xám, mịt mùng và trơ khấc. Không gian vẫn hữu tình đọng lại trong tiềm thức khung trời nhớ thương màu hoa không nhạt, hương hoa không phai và tiếng chim gù, tiếng dế nỉ non không bao giờ im ắng. Đôi khi nhớ quá sắc hoa màu nắng và cả tiếng chim chíu chít, tôi lại lướt album ảnh điện thoại để ngắm khu vườn.
Nhưng nỗi thao thiết ấy chỉ thực sự khỏa lấp đủ đầy khi ta được trở về, được đẩy cánh cổng để bước vào, được đắm mình trong tất cả những gì chân xác nhất. Màu nắng thực, ấm ran trên làn da. Mùi hương thực, xốn cay nơi sống mũi.
Ta bàng hoàng nhận ra, những niềm vui dung dị bé cỏn, trong bủa vây nhọc nhằn cơm áo, đôi lúc trở nên quá phiêu vời, xa xỉ. Thì thôi, tranh thủ ngồi xuống đây thật lâu, bên bậc thềm hoa nở, chẳng làm gì, chỉ lặng im hoà vào sự yên tĩnh của vườn, nghe chất sống dâng lên thật đầy…
Vô số lần tôi âm thầm tự hỏi, khi nào cây cherry Úc trong vườn sẽ ra hoa? Tán lá trả lời bằng một màu xanh im ỉm, một màu xanh hồn nhiên như thể “mình là lá, việc của mình là xanh”! Và thế là tôi mặc định cho nó một đáp án, rằng “chẳng nên trông đợi quá nhiều ở một giống cây ôn đới nơi xứ nắng mưa hai mùa này!”.
Nhưng vào lúc không ngờ nhất, khi thời gian đã trôi trong quên lãng, những đóa cherry trắng muốt kiêu hãnh, rung rinh trong gió khẽ nhắc nhở sự hiện diện của những điều hiếm hoi kỳ diệu vẫn có thể nảy nở trong nghịch cảnh.
Với tôi, cánh hoa ấy mãi sống động như một món quà, một lời hứa, niềm tin thành hiện thực. Cứ chờ đợi đi, dẫu muộn màng, cây sẽ trổ bông. Cũng giống như cành đào phai trước ngõ, vì không canh hãm đúng thời vụ, nó không còn là loài cây báo xuân trong vườn nữa. Lần nào cũng nở muộn, khi “nàng Bân may áo rét cho chồng”.
Sự trễ tràng đã thành lệ nên hoa đào tháng 3 trong những sớm mai mùa muộn, sáng đông trưa hè, bỗng trở thành nét duyên riêng níu giữ bình yên và khoảnh khắc trong lành giữa những tháng ngày trời bắt đầu trở, việc đã bắt đầu bận rộn.
Tôi nhận ra, có những thứ “lạc quẻ” nhưng không lạc lõng, “vô tư” nhưng không vô nghĩa. Đến thời điểm nào đó, đúng thì, đủ nhựa sau những lặng thầm tích lũy, “cây sẽ cho lộc” và “hoa sẽ đơm bông”.
Trong vườn, cũng có những loài hoa không bao giờ trễ hẹn, dẫu nắng, mưa càng lúc càng thất thường. Tường vi, luôn giữ cho tôi niềm tin ấy. Tháng 5, hạt mưa đầu mùa vừa rắc xuống ở lưng chừng, đã nở thành những cánh hồng nhạt mỏng manh. Ai biết đâu những nụ xanh ẩn mình, tròn như mắt lá, chỉ đợi hơi mưa đã cựa quậy bung xoè từng cánh nhẹ.
“Tường vi cánh mỏng” - mong manh mà mãnh liệt, kiên cường. Số phận của nó, dường như sinh ra đã gắn với bão giông, mưa gió. Tôi nhớ có một lần giữa chiều bão đổ, 2 cây tường vi to lớn đương bông như 2 cái tán lọng màu hồng, bị gió vặn rung lắc, vần vũ trong thoáng chốc chỉ còn 2 tán lọng màu xanh. Thảm hoa tan tác ướt sũng trên mặt đất, cuộn theo gió mưa hất lên tận tầng không. Phận hoa thật mong manh, loài hoa phận mỏng…
Vậy mà mấy hôm sau, khi gió ngừng, mưa tạnh, nắng đã kịp làm bung nụ hoa kiên cường còn sót lại, hoa nở từng tràng như chưa hề có trận cuồng phong. Sức sống mãnh liệt từ những cánh tường vi nhỏ bé, nhắc cho ta sự vô thường và cả niềm tin về những phi thường vượt lên trên khắc nghiệt. Niềm tin ấy, đủ cho ta nuôi dưỡng những đóa hoa lòng, bằng nỗi nhớ, niềm tin, sự đợi trông và cả lòng biết ơn.
Đôi khi, ở giữa khu vườn ngoài tiếng chim gù, hương hoa trái đan bện vào nhau, tiếng tắc kè hoa thưa thớt gọi bạn từng hồi, tiếng gió xào xạc của bình yên cây cội, ở lâu trong tĩnh lặng lòng dễ hay ngóng vọng.
Tâm chưa an tịnh, ta sợ sự cô đơn; chung đụng chốn ồn ào náo nhiệt, cám dỗ, thị phi người ta lại thèm muốn trở về. Sự im lặng bao dung muôn thuở của vườn vẫn thế. Nhưng là cái im lặng đắt giá biết bao nhiêu.
Bao lần hoa nở rồi tàn, bao lần trái già rồi rụng, bao lần hương toả rồi phai, đời của vườn cây vẫn vô tư đãi đằng, tận hiến, nhẫn nại và thầm lặng, ta bừng ngộ và thấm thía: Trong thế giới của chim muông, lá hoa trái ngọt, chưa bao giờ ta bị bạc đãi. Chỉ có ta đôi lúc bạc lòng…
Tiếng chim gù trong trẻo, tiếng líu lo trong vắt, trắng tinh khôi cánh hoa an yên trong nắng, hương thơm thoang thoảng hiền lành, đủ khiến ta giật mình, tỉnh thức, biết ơn những gì tốt đẹp vẫn vô tư bình dị hiện diện quanh đây thật gần.
Tôi nhớ câu nói của nhân vật chú Năm trong truyện ngắn Những đứa con trong gia đình (Nguyễn Thi) về những dòng sông “lắm nước ngọt, nhiều phù sa”, cho “vườn ruộng mát mẻ, lòng tốt cũng sinh ra từ đó”; tôi nhớ “Người làm vườn” của R. Tagore, nhớ Ông Trương Ba của Lưu Quang Vũ.
Tôi nhớ cả những lần ba tôi một mình lên vườn, uốn cây tỉa tán, cui cút chăm vườn hồng cho con gái nhỏ đang ở nơi xa; nhớ người em làm vườn hiền lành chân chất, thi thoảng chạy lên ghép cành, xới đất, sợ cây tàn tiếc nụ vừa đơm…
Để mỗi khi tôi có dịp trở về thăm vườn xưa lối cũ, hoa lá vẫn lấp loá thắm xanh, giậu bờ còn in lối ngay ngắn, hoang vắng chưa bị thời gian và cô liêu xâm lấn chốn này.
Bao giọt mồ hôi và tình thương mến vẫn lặng thầm rớt xuống thay tôi. Và tôi chợt hiểu: Đất đai, cây cối hiền lành luôn nuôi dưỡng ở người sự tử tế, thiện lương; mồ hôi nhọc nhằn chăm bẵm người niềm tin, cay đắng ngọt bùi hay khổ tận cam lai nhắc nhở ta những lẽ hằng thường.
Cuộc sống phải chăng cũng như tàng cây tích nhựa, đủ đầy rồi nụ sẽ lên thôi, tận cùng của yêu mến và biết ơn, những đóa hoa lòng sẽ trổ bông. Những đóa hoa ấy, bằng cách nào đó, dù là cuộc đời ban tặng hay bạn tự tìm thấy, dù bạn lặng lẽ nâng niu, giữ gìn hay trao gửi đến ai, luôn có ý nghĩa như một đức tin, rằng điều tốt đẹp sau cùng sẽ ở lại, nếu tim mình là một đóa tâm hoa.