Làng Khoa bảng bên dòng sông Gianh

Theo dõi Báo Gia Lai trên Google News
“Khi nào hết cát Mỹ Hòa, sông Gianh hết nước, La Hà hết quan” - dân Quảng Bình truyền tụng câu nói với ý vùng đất La Hà thời nào cũng sinh nhân kiệt, lưu danh sử sách.
Vùng đất La Hà nay thuộc xã Quảng Văn, thị xã Ba Đồn. Chỉ trong gần 1 thế kỷ dưới thời nhà Nguyễn, La Hà có đến 5 vị đỗ đại khoa tiến sĩ, 1 phó bảng và 32 người đỗ hương khoa tú tài, cử nhân…cùng đông đảo giới nho sinh “tầm sư học đạo”. Vùng đất này được xếp thứ 2 trong “bát danh hương” và là làng khoa bảng nổi tiếng nhất Quảng Bình.
Đất thiêng sinh hiền tài
Thôn La Hà như một “ốc đảo” giữa dòng sông Gianh bởi bốn bề là nước. Thuở khai thiên lập địa, 2 nhánh chính của sông Gianh là nguồn Son và nguồn Nậy đổ về cửa Hác gặp nhau tạo nên một bãi nổi khá lớn. Vùng đất này có hình tựa con cá chép bơi ngược, với 5 nhánh sông phụ đổ dồn vào nên người ta thường ví La Hà là “Ngũ long tranh châu”.
Năm Lê Thánh Tông (1640-1697), trong một lần Nam chinh, nhà Vua thấy địa thế bãi nổi này kỳ lạ bèn cho lập làng lấy tên La Hà xã, nghĩa là ngôi làng bao bọc bởi sông nước và cũng từ đây mảnh đất này sản sinh ra một nền văn hóa độc đáo, nuôi dưỡng nhiều nhân tài tuấn kiệt.
 Đình làng thôn La Hà - nơi ghi danh nhiều tiến sĩ, phó bảng được công nhận là di tích lịch sử tỉnh Quảng Bình
Đình làng thôn La Hà - nơi ghi danh nhiều tiến sĩ, phó bảng được công nhận là di tích lịch sử tỉnh Quảng Bình
Đất La Hà tuy nghèo nhưng hiếu học và nức tiếng sản sinh nhân tài. Dưới thời nhà Nguyễn, toàn huyện Quảng Trạch có 15 vị đại khoa, riêng La Hà có 6 vị, nhiều nhất trong huyện. Trong các kỳ thi hương, từ năm Quý Dậu 1813 đến năm Mậu Ngọ 1918, có 270 vị đỗ cử nhân, trong đó huyện Quảng Trạch có 113 vị, riêng La Hà có tới 32 vị, cũng chiếm số lượng nhiều nhất so với các địa phương trong tỉnh Quảng Bình.
 Tấm bia ghi danh các tiến sĩ, phó bảng ở đình làng La Hà
Tấm bia ghi danh các tiến sĩ, phó bảng ở đình làng La Hà
Dưới triều vua Tự Đức năm Tân Hội thứ tư 1851, trong kỳ thi hội đã ghi nhận một bảng vàng rực rỡ nhất cho Quảng Bình khi toàn tỉnh thời điểm ấy có 3 tiến sĩ thì riêng La Hà đã có 2 vị. Điều thú vị, 2 người đỗ đạt ở La Hà là thầy - trò “lều chõng” cùng nhau. Thầy là Phạm Nhật Tân (41 tuổi), còn trò là Trần Văn Hệ (24 tuổi). Năm ấy, cả 2 thầy trò cùng lên kinh ứng thí và cùng đỗ một khóa thi, điều mà các triều đại phong kiến xưa cho là quý hiếm.
Nổi tiếng hiếu học ở La Hà là dòng họ Trần và họ Phạm. Họ Trần có 2 anh em là Trần Văn Chuẩn đỗ tiến sĩ, em là Trần Văn Thức đỗ cử nhân. Hai cha con cùng thi đỗ đạt và làm quan là tiến sĩ Trần Văn Hệ và con trai là Trần Hữu Xứng đỗ cử nhân. Họ Phạm cũng có 2 cha con Phạm Huy Bính, Phạm Huy Rinh cùng đỗ cử nhân.
Sử sách ghi lại, La Hà có tới hàng trăm người có học vị từ cử nhân đến tiến sĩ. Với thành tích khoa bảng rực rỡ như vậy nên người Quảng Bình truyền miệng câu ca: “Khi nào hết cát Mỹ Hòa, sông Gianh hết nước, La Hà hết quan”.
“Vật giao La Hà trái”
Ông Phạm Văn Mùi, Chủ tịch Hội Người cao tuổi xã Quảng Văn, 1 bậc cao niên dẫn chúng tôi vào đình làng của thôn La Hà và kể nhiều câu chuyện mà ông thuộc làu khi giới thiệu về ngôi làng khoa bảng của mình.
Đến nay, người dân thôn La Hà vẫn lưu truyền và kể lại đức tính hiếu học của 3 anh em nhà họ Trần, là: Trần Khắc Mẫn; Trần Khắc Thận và Trần Khắc Khoan. Tương tuyền, 3 anh em họ Trần vì nhà quá nghèo nên không có tiền mời thầy dạy, mua đèn sách. Họ dùng mo cau hoặc nang tre làm giấy viết. Hằng ngày, ngoài việc xuống sông mò cua, bắt ốc kiếm sống thì 3 anh em đã lén lút đến nhà thầy, nấp phía sau nghe trộm bài thầy giảng rồi chép lại. Đến đêm, cả 3 anh em bắt đom đóm bỏ vào bong bóng lợn (bàng quan con heo) làm đèn “dùi mài kinh sử”.

 Ông Phạm Văn Mùi tự hào khi kể lại chuyện khoa bảng ở làng La Hà với phóng viên Báo Người Lao Động
Ông Phạm Văn Mùi tự hào khi kể lại chuyện khoa bảng ở làng La Hà với phóng viên Báo Người Lao Động

Trong 3 anh em, thì anh cả Mẫn và em út Khoan trong kì thì lần đầu đã đỗ đạt và làm quan đến chức án sát dưới thời vua Minh Mạng, còn cụ Thận “học tài thi phận” khi thi 7 lần không đỗ, lần thứ 8, cụ mới thi đỗ tú tài. Triều đình xét thấy đức tính kiên nhẫn, hiếu học của cụ nên “đặc cách” cho đỗ cử nhân, phong làm quan tri huyện và được nhà Vua ban tặng cho câu đối: “Nhất cử thành danh thiên hạ hữu, Bát khoa liên trúng thế gian vô” - nghĩa là 1 lần đỗ đạt làm quan nhiều vô kể, còn thi 8 lần mới làm quan thì thiên hạ không bao giờ có.

Dưới thời nhà Nguyễn, La Hà có đội ngũ trí thức đông đảo tài cao, học rộng, nhiều người làm quan to nên nhân dân trong vùng rất nể phục thậm chí có phần ái ngại khi giao lưu với người trong làng. Bởi vậy nên có câu thành ngữ “Vật giao La Hà trái”.
Bên trong ngồi đình cổ thờ các tiến sĩ, phó bảng và những người đỗ đạt cao ở La Hà
Bên trong ngồi đình cổ thờ các tiến sĩ, phó bảng và những người đỗ đạt cao ở La Hà
Tiến sĩ Trần Văn Chuẫn - một người La Hà từng được cử làm Phó sứ dưới thời Tự Đức đi công cán ngoại giao tại Trung Quốc. Nhờ tài năng ứng đối giữ gìn quốc thể, làm quan có chứng tích, lại thanh liêm mà về sau cụ Chuẫn được nhà vua thăng làm Tổng đốc Nghệ An, rồi lên Thượng thư Bộ Công…

Xếp thứ 2 trong "Bát danh hương" của Quảng Bình
Trong quá trình lịch sử, Quảng Bình đã hình thành nhiều ngôi làng là những địa danh nổi tiếng có những nét văn hóa độc đáo, khoa bảng, phong cảnh kỳ thú, trai gái tài sắc…riêng biệt và được truyền tụng từ bao đời nay với tên gọi là "Bát danh hương" nghĩa là 8 ngôi làng: "Sơn - Hà - Cảnh - Thổ, Văn - Võ - Cổ - Kim", gồm: Lệ Sơn, La Hà, Cảnh Dương, Thổ Ngọa, Văn La, Võ Xa, Cổ Hiền và Kim Nại. Trong đó La Hà được xếp thứ 2 với danh hiệu "Làng Khoa bảng".
Theo Hoàng Phúc (NLĐO)

Có thể bạn quan tâm

Ruổi rong đời chăn vịt

Ruổi rong đời chăn vịt

(GLO)- Sau mỗi mùa gặt, những cánh đồng lúa ở các xã An Lương, An Hòa, An Vinh, Tuy Phước… lại rộn ràng bởi đàn vịt hàng nghìn con tìm về kiếm ăn. Gắn với đàn vịt, những người chăn vịt miệt mài rong ruổi qua nhiều cánh đồng, lấy mùa gặt làm nhịp mưu sinh.

Trầm tích sông Ba

Trầm tích sông Ba

(GLO)- Sông Ba đoạn qua xã Ia Dreh (tỉnh Gia Lai) mùa khô, vài con thuyền đánh cá nằm gối đầu nghỉ ngơi trên những doi cát. Chiều xuống, từ những bến sông, người dân vẫn ra tắm mát dù nước cạn tới mức có thể lội ra giữa dòng.

Nửa đời tìm cha, một đời lưu giữ ký ức

Nửa đời tìm cha, một đời lưu giữ ký ức

(GLO)- Hơn nửa thế kỷ sau chiến tranh, cựu chiến binh Trần Duy Đức vẫn lặng lẽ đi tìm những mảnh ghép của quá khứ. Từ hành trình tìm lại hình bóng người cha liệt sĩ, ông dành cả cuộc đời sưu tầm, ghi chép và lưu giữ lịch sử quê hương cùng những câu chuyện về những con người đã làm nên lịch sử.

Miếu thờ liệt sĩ bên suối Hội Phú

Miếu thờ liệt sĩ bên suối Hội Phú

(GLO)- Không biết tên tuổi, quê quán những người lính hy sinh trong trận đánh Tết Mậu Thân 1968 tại Pleiku, người dân bên suối Hội Phú (phường Hội Phú, tỉnh Gia Lai) vẫn âm thầm thắp những nén nhang rồi lập miếu thờ ngay nơi các anh từng nằm xuống. 

Vị Xuyên - Bạn tôi vẫn còn đó

Vị Xuyên - Bạn tôi vẫn còn đó

(GLO)- Vùng biên giới Vị Xuyên, tỉnh Tuyên Quang (Hà Giang cũ) hôm nay đã đổi thay, nhưng những người đồng đội của tôi vẫn còn đó, nằm ngay ngắn trong đội hình “hàng thẳng hàng, lối thẳng lối, quân dung tươi tỉnh” tại Nghĩa trang Liệt sĩ Quốc gia Vị Xuyên.

Chị Djen giới thiệu những chùm răng rẽl vừa thu hái

Theo mùa răng rẽl

(GLO)- Mưa như trút nước xuống những cánh rừng ở xã Ðăk Sơmei sau nhiều tháng nắng khô khốc. Những cung đường rừng trơn như đổ mỡ, loang lổ vệt bánh xe máy trượt ngang. Thỉnh thoảng, giữa nền đường đỏ quạch sót lại vài chùm răng rẽl xanh mướt rơi vãi, dấu vết của những chuyến trở về từ rừng.

Nghị lực phi thường của người thương binh hạng nặng Lê Thái Hà

Nghị lực phi thường của người thương binh hạng nặng Lê Thái Hà

(GLO)- Khi bị thương nặng tại chiến trường Campuchia, ông Lê Thái Hà (trú phường Bình Định, tỉnh Gia Lai) không nghĩ mình sẽ sống sót. Phục viên với sức khỏe suy giảm đến 91%, ông cũng từng không dám mơ đến những điều xa xôi về tương lai. Vậy mà người cựu chiến binh ấy đã can trường vượt qua tất cả.

4 ngày làm vợ, 54 năm đợi chờ

4 ngày làm vợ, 54 năm đợi chờ

Sau 54 năm kể từ ngày liệt sĩ Nguyễn Văn Đinh ngã xuống trên chiến trường Quảng Trị, bà Nguyễn Thị Ngọ (Nghệ An) mới được đứng trên mảnh đất ông hy sinh. Hành trình ấy khép lại nỗi khắc khoải của một người vợ, nhưng mở ra câu chuyện lay động về tình yêu, sự thủy chung không phai theo năm tháng.

'Bí kíp' nón ngựa nghĩa quân Tây Sơn

'Bí kíp' nón ngựa nghĩa quân Tây Sơn

Nghệ nhân ưu tú Đỗ Văn Lan (80 tuổi, ông Ba Lan) đang giữ nguyên vẹn “bí kíp” tổ truyền làm “nón ngựa Phú Gia” mà ngày xưa nghĩa quân Tây Sơn đội nắng mưa hành quân thần tốc. Những chiếc nón không chỉ như một tác phẩm nghệ thuật mà còn rất bền.

null