Hồi ức "hạt giống đỏ" trên đất Bắc-Kỳ 1: Lời của Bác Hồ

Theo dõi Báo Gia Lai trên Google News

(GLO)- Với mong muốn chia sẻ những kỷ niệm khó quên khi được là “hạt giống đỏ” theo học tại Trường Cán bộ Dân tộc miền Nam ở đất Bắc, đồng chí Ksor Phước-nguyên Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, nguyên Chủ tịch Hội đồng Dân tộc của Quốc hội, nguyên Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Gia Lai đã viết cuốn hồi ký “Những năm tháng học trò trên đất Bắc yêu thương”. Báo Gia Lai điện tử xin trích đăng, giới thiệu đến bạn đọc một vài câu chuyện đầy ắp kỷ niệm một thuở học trò hồn nhiên, trong sáng của đồng chí trong cuốn hồi ký này.

 

Những ngày theo học tại Trường Dân tộc Trung ương (tiền thân của Trường Cán bộ Dân tộc miền Nam), những con em đồng bào, cán bộ miền Nam được Bác Hồ thường xuyên đến thăm. Người ân cần, quan tâm đến điều kiện sinh hoạt của học sinh. Bác nói: “Các cháu sẽ trở về phục vụ quê hương mình. Các cháu là những “hạt giống đỏ” của đồng bào miền Nam”.

Các cựu giáo viên, học sinh trường Dân tộc Miền Nam trước bia di tích của Trường tại xóm Chùa, xã Phúc Trìu, Tp Thái Nguyên 30-4-2016
Các cựu giáo viên, học sinh Trường Cán bộ Dân tộc miền Nam trước bia di tích tại xóm Chùa, xã Phúc Trìu, TP. tỉnh Thái Nguyên. Ảnh: Ksor Phước


Tháng 3-1955, tôi theo ba xuống Quy Nhơn lên tàu thủy Ba Lan Kilinski tập kết ra miền Bắc. Sau mấy ngày đi biển, ba tôi bị cảm nên lên bờ và nghỉ tại Sầm Sơn (tỉnh Thanh Hóa) khoảng 1 tháng. Sau đó, hai cha con ra Hà Nội, lúc đầu ở tại Trường Cán bộ miền Nam tập kết khu vực ấp Thái Hà gần gò Đống Đa, sau chuyển về Khu Cán bộ dân tộc miền Nam (đóng tại Ngọc Thụy, Gia lâm), bác Y Ngông Niê Kdăm là Giám đốc. Ở đây, ba đổi cả họ và tên tôi là Ksor Phước.


Từ cuối năm 1958 đến hè năm 1961, tôi được ba gửi vào học nội trú tại Trại Nhi đồng miền Nam (học mẫu giáo và vỡ lòng). Đây là lần đầu tiên tôi sống trong môi trường tập thể. Trường đóng gần kề ấp Thái Hà, phía sau Gò Đống Đa (Hà Nội). Tôi còn nhớ cô Hiệu trưởng mà chúng tôi hay gọi là má Năm, các cô nuôi, dạy trẻ (cô bảo mẫu) toàn là người miền Nam như cô Tần, cô Ba, cô Trình. Hàng ngày, các cô cho chúng tôi ăn, chơi, học hát, học múa. Các cô chăm lo cho chúng tôi tất cả mọi thứ tắm, giặt quần áo… như con trong nhà. Sáng thứ năm hàng tuần, các cô dẫn chúng tôi ra Gò Đống Đa chơi.
 

Kilinski - con tàu mà những người miền Nam tập kết thường hay nhắc đến. Ảnh tư liệu Đỗ Thái Bình
Kilinski-con tàu mà những người miền Nam tập kết thường hay nhắc đến. Ảnh tư liệu Đỗ Thái Bình


Khoảng tháng 5-1961, tôi học xong Vỡ lòng ở Trường Nhi đồng miền Nam rồi về Trường Dân tộc Trung ương ở Mễ Trì (quận Thanh Xuân, Hà Nội) do ba tôi làm Hiệu trưởng. Thời gian đó, có hai lần Bác Hồ đến thăm trường. Một lần Bác đến vào buổi đầu giờ chiều thứ năm (bấy giờ là ngày nghỉ) và vào thẳng phòng hai cha con tôi. Lần khác ghé thăm, Bác lại đến kiểm tra khu vệ sinh, rồi nhà bếp trước. Một số bạn học vô tình nhìn thấy Bác liền chạy vào lớp hô to: “Bác Hồ đến...”. Thế là tất cả chạy ùa ra đón Bác ngay tại sân trường.

Ảnh tác giả chụp sau Têt năm 1972 tại Thịnh Đán – Bắc Thái. Mặc áo dân tộc Thái ba được tỉnh Sơn La tặng. Mà trong 3 anh em trai chỉ có tôi mặc áo này vừa nhất.
Ảnh tác giả chụp sau Tết năm 1972 tại Thịnh Đán-Bắc Thái. Ảnh: Ksor Phước

Tôi vẫn nhớ như in lần Bác trò chuyện với học sinh dân tộc miền Nam. Bác hỏi: “Các cháu ăn có no không?”.

Nhóm người lớn nói ăn no, nhưng nhóm cấp I thì nói không no. Nghe vậy, Bác cười và nói: “Không no là phải. Vì Bác và các cháu ăn hạt gạo do đồng bào miền Bắc làm ra. Hạt gạo miền Bắc phải cắn ra làm ba phần, một phần cho miền Bắc trong đó có Bác cháu ta ăn, một phần cho cán bộ chiến sĩ đang chiến đấu ở miền Nam và một phần giúp đỡ cách mạng Lào. Vì vậy Bác cháu ta chưa thể ăn no được”.

Có một số anh lớn nói muốn được vào Nam trực tiếp chiến đấu. Bác nói: “Cha mẹ các cháu hiện đang cùng đồng bào miền Nam đấu tranh chống đế quốc Mỹ và tay sai, đã gởi các cháu ra cho đồng bào miền Bắc nuôi dạy để sau này lớn khôn thành cán bộ. Các cháu sẽ trở về phục vụ quê hương mình. Các cháu là những “hạt giống đỏ” của đồng bào miền Nam”.

… Năm 1969, khoảng 6 giờ 30 phút sáng 2-9, Đài tiếng nói Việt Nam đưa tin Bác Hồ ốm nặng. Nhưng vào sáng hôm sau Đài lại đưa tin Bác Hồ mất vào lúc 9 giờ 47 phút ngày 3-9-1969. Tôi nhớ khi ăn sáng, rồi lên lớp, mọi người ai cũng mang nặng nỗi buồn thương Bác vô cùng. Khoảng 1 tuần sau chúng tôi được biết đến bài thơ “Bác ơi” của nhà thơ Tố Hữu, tôi vẫn nhớ nhiều khổ thơ tuyệt hay thấm đẫm vào tâm hồn chúng tôi đến tận bây giờ:


 

“Bác đã đi rồi sao, Bác ơi!    
Mùa thu đang đẹp, nắng xanh trời    
Miền Nam đang thắng, mơ ngày hội    
Rước Bác vào thǎm, thấy Bác cười!

…Bác nhớ miền Nam, nỗi nhớ nhà    
Miền Nam mong Bác, nỗi mong cha    
Bác nghe từng bước trên tiền tuyến    
Lắng mỗi tin mừng tiếng súng xa.

…Bác để tình thương cho chúng con    
Một đời thanh bạch, chẳng vàng son    
Mong manh áo vải hồn muôn trượng    
Hơn tượng đồng phơi những lối mòn…”.



 

Một số bạn đội thiếu niên hệ cấp II chụp ảnh với thầy Nguyễn Trọng Bí Hệ trưởng ở Bản Đồng Liều, xã Chi Lăng cuối năm 1966.
Một số bạn đội thiếu niên hệ cấp II chụp ảnh với thầy Nguyễn Trọng Bí-Hiệu trưởng ở bản Đồng Liều, xã Chi Lăng cuối năm 1966. Ảnh: Ksor Phước

Bác là thiên tài, là lãnh tụ vĩ đại, là nhà văn hóa lớn, là Anh hùng giải phóng dân tộc nhưng vô cùng bình dị, khiêm tốn, gần gũi. Bác không có gì riêng cho mình, Bác đã hiến dâng trọn đời mình cho Tổ quốc, cho Nhân dân... Và tôi vẫn rất nhớ một câu tuyệt hay trong bài “Điếu văn” của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa III do đồng chí Lê Duẩn-Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng đọc tại lễ truy điệu Hồ Chủ tịch ngày 9-9-1969 tại Quảng trường Ba Đình: “Dân tộc ta, Nhân dân ta, non sông đất nước ta đã sinh ra Hồ Chủ tịch-Người Anh hùng dân tộc vĩ đại và chính Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, Nhân dân ta và non sông đất nước ta”.

Chúng con yêu, thương, kính trọng Bác vô cùng Bác Hồ ơi...

Ngay sau Chiến thắng Điện Biên Phủ, với tầm nhìn chiến lược và sự sáng suốt của Đảng, Bác Hồ, tháng 5-1955, Chính phủ đã quyết định thành lập Trường Dân tộc Trung ương.


Đến năm 1960, để đáp ứng tình hình mới, Trường Dân tộc Trung ương được chia tách thành Trường Cán bộ Dân tộc miền Nam và Trường Dân tộc Trung ương. Trường Cán bộ Dân tộc miền Nam đóng tại Chi Nê (Lạc Thủy, Hòa Bình), do Ban Dân tộc Trung ương (nay là Ủy ban Dân tộc) quản lý; Trường Dân tộc Trung ương trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo.


Trong giai đoạn 1954-1975, Đảng và Nhà nước ta đã tổ chức đưa hơn 32.000 con em đồng bào miền Nam ra miền Bắc để học tập văn hoá, chuyên môn nghiệp vụ, trong đó có hơn 2.000 con em các dân tộc miền Nam tập kết ra Bắc. Hầu hết trong số này đều đến từ vùng sâu, vùng xa, miền núi vô cùng khó khăn từ vỹ tuyến 17 (sông Bến Hải, Quảng Trị) trở vào, học ở Trường Cán bộ Dân tộc miền Nam, trực thuộc Ban Dân tộc Trung ương, nay là Ủy ban Dân tộc. Nhà trường đã đứng chân ở nhiều địa bàn khác nhau, như: Hà Nội, Hoà Bình, Bắc Thái (nay là Thái Nguyên), Lạng Sơn...

(Báo Đảng Cộng sản Việt Nam)

--------------------------
Kỳ cuối: Hạnh phúc là học trò miền Nam trên đất Bắc


 

KSOR PHƯỚC

Có thể bạn quan tâm

Ruổi rong đời chăn vịt

Ruổi rong đời chăn vịt

(GLO)- Sau mỗi mùa gặt, những cánh đồng lúa ở các xã An Lương, An Hòa, An Vinh, Tuy Phước… lại rộn ràng bởi đàn vịt hàng nghìn con tìm về kiếm ăn. Gắn với đàn vịt, những người chăn vịt miệt mài rong ruổi qua nhiều cánh đồng, lấy mùa gặt làm nhịp mưu sinh.

Trầm tích sông Ba

Trầm tích sông Ba

(GLO)- Sông Ba đoạn qua xã Ia Dreh (tỉnh Gia Lai) mùa khô, vài con thuyền đánh cá nằm gối đầu nghỉ ngơi trên những doi cát. Chiều xuống, từ những bến sông, người dân vẫn ra tắm mát dù nước cạn tới mức có thể lội ra giữa dòng.

Nửa đời tìm cha, một đời lưu giữ ký ức

Nửa đời tìm cha, một đời lưu giữ ký ức

(GLO)- Hơn nửa thế kỷ sau chiến tranh, cựu chiến binh Trần Duy Đức vẫn lặng lẽ đi tìm những mảnh ghép của quá khứ. Từ hành trình tìm lại hình bóng người cha liệt sĩ, ông dành cả cuộc đời sưu tầm, ghi chép và lưu giữ lịch sử quê hương cùng những câu chuyện về những con người đã làm nên lịch sử.

Miếu thờ liệt sĩ bên suối Hội Phú

Miếu thờ liệt sĩ bên suối Hội Phú

(GLO)- Không biết tên tuổi, quê quán những người lính hy sinh trong trận đánh Tết Mậu Thân 1968 tại Pleiku, người dân bên suối Hội Phú (phường Hội Phú, tỉnh Gia Lai) vẫn âm thầm thắp những nén nhang rồi lập miếu thờ ngay nơi các anh từng nằm xuống. 

Vị Xuyên - Bạn tôi vẫn còn đó

Vị Xuyên - Bạn tôi vẫn còn đó

(GLO)- Vùng biên giới Vị Xuyên, tỉnh Tuyên Quang (Hà Giang cũ) hôm nay đã đổi thay, nhưng những người đồng đội của tôi vẫn còn đó, nằm ngay ngắn trong đội hình “hàng thẳng hàng, lối thẳng lối, quân dung tươi tỉnh” tại Nghĩa trang Liệt sĩ Quốc gia Vị Xuyên.

Chị Djen giới thiệu những chùm răng rẽl vừa thu hái

Theo mùa răng rẽl

(GLO)- Mưa như trút nước xuống những cánh rừng ở xã Ðăk Sơmei sau nhiều tháng nắng khô khốc. Những cung đường rừng trơn như đổ mỡ, loang lổ vệt bánh xe máy trượt ngang. Thỉnh thoảng, giữa nền đường đỏ quạch sót lại vài chùm răng rẽl xanh mướt rơi vãi, dấu vết của những chuyến trở về từ rừng.

Nghị lực phi thường của người thương binh hạng nặng Lê Thái Hà

Nghị lực phi thường của người thương binh hạng nặng Lê Thái Hà

(GLO)- Khi bị thương nặng tại chiến trường Campuchia, ông Lê Thái Hà (trú phường Bình Định, tỉnh Gia Lai) không nghĩ mình sẽ sống sót. Phục viên với sức khỏe suy giảm đến 91%, ông cũng từng không dám mơ đến những điều xa xôi về tương lai. Vậy mà người cựu chiến binh ấy đã can trường vượt qua tất cả.

4 ngày làm vợ, 54 năm đợi chờ

4 ngày làm vợ, 54 năm đợi chờ

Sau 54 năm kể từ ngày liệt sĩ Nguyễn Văn Đinh ngã xuống trên chiến trường Quảng Trị, bà Nguyễn Thị Ngọ (Nghệ An) mới được đứng trên mảnh đất ông hy sinh. Hành trình ấy khép lại nỗi khắc khoải của một người vợ, nhưng mở ra câu chuyện lay động về tình yêu, sự thủy chung không phai theo năm tháng.

'Bí kíp' nón ngựa nghĩa quân Tây Sơn

'Bí kíp' nón ngựa nghĩa quân Tây Sơn

Nghệ nhân ưu tú Đỗ Văn Lan (80 tuổi, ông Ba Lan) đang giữ nguyên vẹn “bí kíp” tổ truyền làm “nón ngựa Phú Gia” mà ngày xưa nghĩa quân Tây Sơn đội nắng mưa hành quân thần tốc. Những chiếc nón không chỉ như một tác phẩm nghệ thuật mà còn rất bền.

null