Theo Chương trình hành động, Gia Lai đặt mục tiêu đến năm 2030 đón 18,5 triệu lượt khách du lịch, trong đó có 1,1 triệu lượt khách quốc tế; tổng doanh thu du lịch đạt 45.500 tỷ đồng; thời gian lưu trú bình quân từ 3 ngày trở lên.
Cùng với đó, tỉnh phấn đấu phát triển khoảng 33.000 phòng lưu trú, có trên 25.000 lao động trực tiếp phục vụ du lịch được đào tạo, bồi dưỡng; số hóa 20-30 điểm đến trọng điểm và có ít nhất 20 điểm đến áp dụng tiêu chí, giải pháp du lịch xanh. Đồng thời, hình thành 5-7 sự kiện du lịch thường niên có khả năng thu hút khách, ít nhất 5 tuyến, tour liên kết biển - đại ngàn.
Mỗi địa phương có tiềm năng du lịch xây dựng ít nhất 1 sản phẩm đặc trưng. Đến năm 2045, Gia Lai hướng tới trở thành điểm đến du lịch hàng đầu Việt Nam và khu vực, là một trong những trung tâm du lịch nghỉ dưỡng biển, sinh thái cao cấp, sáng tạo, xanh, thông minh gắn với các giá trị di sản văn hóa và lịch sử.
Hình thành 2 không gian du lịch chủ đạo, phát triển 6 nhóm sản phẩm chủ lực
Gia Lai định vị thương hiệu điểm đến theo thông điệp “Gia Lai - Đại ngàn chạm biển xanh”, hướng tới mô hình một điểm đến với 2 không gian du lịch chủ đạo.
Trong đó, không gian biển - đô thị - đảo - bán đảo lấy Quy Nhơn, Phương Mai, Quy Nhơn Nam, Nhơn Lý - Nhơn Hải - Nhơn Châu và dải ven biển làm trọng tâm; ưu tiên phát triển du lịch nghỉ dưỡng, thể thao biển, tàu biển, hội nghị, hội thảo, ẩm thực, mua sắm, vui chơi giải trí và kinh tế ban đêm.
Không gian cao nguyên - rừng - hồ - văn hóa tập trung tại Pleiku - Biển Hồ - Chư Đăng Ya, Kon Hà Nừng - Kon Ka Kinh - thác K50, An Khê - Tây Sơn và các làng văn hóa cộng đồng; phát triển du lịch sinh thái, văn hóa Tây Nguyên, cồng chiêng, di sản, lịch sử và du lịch nông nghiệp.
2 không gian được kết nối theo trục Đông - Tây, lấy Quy Nhơn làm cửa ngõ đón khách, liên kết với cao nguyên nhằm hình thành các hành trình du lịch liên hoàn, kéo dài thời gian lưu trú và tăng mức chi tiêu của du khách.
Trên cơ sở đó, tỉnh tập trung phát triển 6 nhóm sản phẩm du lịch chủ lực gồm: biển - nghỉ dưỡng - đô thị - kinh tế ban đêm; đại ngàn - sinh thái - rừng - hồ; văn hóa - di sản - công nghiệp văn hóa; thể thao - kinh tế sự kiện; MICE (du lịch kết hợp tổ chức hội nghị, hội thảo, sự kiện) - khoa học - giáo dục; chăm sóc sức khỏe - nghỉ dưỡng - phục hồi sức khỏe.
Ưu tiên hạ tầng chiến lược, triển khai 10 nhiệm vụ trọng điểm
Để hiện thực hóa mục tiêu đề ra, Ban Thường vụ Tỉnh ủy xác định 10 nhiệm vụ, chương trình, đề án trọng điểm giai đoạn 2026-2030, tập trung vào kiến tạo điểm đến, phát triển sản phẩm mũi nhọn, mở rộng thị trường, chuyển đổi số và phát triển bền vững.
Trong đó, ưu tiên đầu tư hạ tầng du lịch trục Quy Nhơn - Pleiku; các tuyến kết nối sân bay, cảng biển với trung tâm du lịch; đường vào Biển Hồ - Chư Đăng Ya, Vườn quốc gia Kon Ka Kinh gắn với thác K50, An Khê - Tây Sơn và các làng du lịch cộng đồng.
Tỉnh sẽ xây dựng đề án phát triển Phương Mai và Biển Hồ - Chư Đăng Ya theo định hướng khu du lịch quốc gia; đề án tổng thể phát triển du lịch sinh thái Khu dự trữ sinh quyển thế giới Cao nguyên Kon Hà Nừng; đồng thời phát triển các sản phẩm du lịch biển, đô thị, tàu biển và MICE tại Quy Nhơn.
Bên cạnh đó, triển khai chương trình “Mỗi địa phương một sản phẩm du lịch - mỗi sản phẩm một thị trường”, gắn sản phẩm đặc trưng với nhu cầu thị trường, chủ thể khai thác và hiệu quả kinh tế.
Tỉnh cũng chú trọng thu hút khách quốc tế, tăng cường kết nối hàng không, doanh nghiệp lữ hành, cơ sở lưu trú; xây dựng hệ sinh thái dữ liệu, bản đồ du lịch số dùng chung và triển khai đề án “Du lịch Gia Lai thông minh và điểm đến xanh”.
Đáng chú ý, Ban Thường vụ Tỉnh ủy yêu cầu phát triển du lịch theo nguyên tắc “5 rõ, 3 không”. Trong đó, “5 rõ” gồm: rõ sản phẩm, rõ địa bàn, rõ nguồn lực, rõ đầu ra và đo được hiệu quả kinh tế.
“3 không” gồm: không đầu tư du lịch khi chưa xác định sản phẩm và thị trường; không tổ chức sự kiện chỉ để có sự kiện; không xây dựng điểm du lịch nếu không có doanh nghiệp vận hành.
Ban Thường vụ Tỉnh ủy nhấn mạnh yêu cầu chuyển từ phát triển du lịch theo số lượng sang chú trọng chất lượng, giá trị gia tăng, trải nghiệm và mức độ hài lòng của du khách; lấy văn hóa làm nền tảng, doanh nghiệp là lực lượng nòng cốt, người dân là chủ thể tham gia và thụ hưởng, gắn phát triển du lịch với chuyển đổi số và tăng trưởng xanh.