Vào vườn mắc ca: Dân Tây Nguyên mòn mỏi trông chờ "nữ hoàng" ra trái

Theo dõi Báo Gia Lai trên Google News
Dù có những thành công bước đầu, mang lại niềm vui cho nhiều người nhưng mắc ca cũng khiến không ít hộ dân ở một số nơi đứng ngồi không yên vì sau nhiều năm trồng nhưng không có trái hoặc ít trái.
 
Theo các chuyên gia nguyên nhân chủ yếu khiến mắc ca ít trái là do chất lương giống.
Mỏi mòn chờ mắc ca ra trái
Tây Nguyên vốn nổi tiếng xưa nay với các loại cây có giá trị kinh tế cao như cà phê, hồ tiêu, sầu riêng…Tuy nhiên, khoảng 10 năm trở lại đây, tại các tỉnh như Đắk Lắk, Đắk Nông, Lâm Đồng đã xuất hiện thêm một loài cây mới cũng có vị thế không kém với tên gọi mĩ miều “nữ hoàng quả khô”, tức cây mắc ca.
 
Nếu giống cây tốt thường cho quả sai như thế này
Trên thị trường các tỉnh thuộc khu vực Tây Nguyên hiện nay, giá hạt mắc ca thô giao động tự 80-100 ngàn/kg.
Như vậy, cây mắc ca mang lại nhiều triển vọng trong tương lai, có thể sánh ngang với các loại cây như cà phê, cao su, hồ tiêu…giúp bà con cải thiện đời sống kinh tế.
Tuy nhiên, trên thực tế không phải ai trồng mắc ca cũng hái được trái ngọt. Có không ít nông hộ lâm vào tình cảnh “tiến thoái lưỡng nan” vì vườn mắc ca không đạt năng suất, không có trái hoặc rất ít trái.
Đơn cử như trường hợp của anh Phạm Văn Thường (thôn 6, xã Đắk Búk So, huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông), từ năm 2013-2014, gia đình anh đã đầu tư vốn để mua giống trồng gần 1.600 cây mắc ca trên diện tích khoảng 6 ha. Thế nhưng, hiện nay gia đình anh vẫn thấp thỏm lo âu vì vườn cây chưa mang lại kết quả như mong đợi.
Theo anh Thường, năm ngoái gia đình anh thu bói được 3 tạ hạt mắc ca, bán khoảng 75.000 đồng/kg thu về 20 triệu đồng. Tuy nhiên, năm nay có khoảng 40% số cây trong vườn của anh không đậu trái.
Ngoài những trường hợp như gia đình anh Thường, còn có một số hộ tại Đắk Lắk và Đắk Nông trồng mắc ca nhưng cho năng suất thấp, vườn cây còi cọc, phát triển kém.
Theo các đánh giá chuyên môn, sở dĩ, vườn mắc ca của một số hộ dân không có trái hoặc kém chất lượng vì nhiều lý do khách quan khác nhau.
Trong đó, việc bà con mua phải cây giống trôi nổi trên thị trường, không đảm bảo chất lượng, không tìm hiểu kĩ đặc tính của cây, thổ nhưỡng, khí hậu, không chăm sóc vườn cây đúng quy trình kỹ thuật là những nguyên nhân chủ yếu.
Khốn khổ vì “ma trận” cây giống
 
Chính vì chưa có đánh giá cụ thể về hiệu quả của cây mắc ca nên các chuyên gia khuyến cáo người dân nên trồng xen canh các loại cây khác vào trong diện tích mắc ca.
Theo tìm hiểu của PV Infonet, hiện tại Đắk Lắk và Đắk Nông có rất nhiều điểm bán giống mắc ca. Điểm bán giống mắc ca nhiều nhất vẫn là đường Nguyễn Lương Bằng (TP. Buôn Ma Thuột).
Tại đây, có hàng chục vườn ươm bán mắc ca với khoảng 20 giống mắc ca như OC, 246, 816, 900 H2, A38, A16… khiến bà con dễ rơi vào “ma trận” cây giống.
Khi nhu cầu tìm giống mắc ca tăng lên, nhiều vườn ươm cây giống đã nắm bắt được tình hình và nhanh chóng cấy ghép, nhân giống mắc ca để bán kiếm lời. Tuy nhiên, phần lớn các nhà vườn tự ươm hạt hoặc chiết từ những cành không đảm bảo chất lượng khiến không ít nông hộ phải khốn khó.
Để tránh rủi ro, cơ quan chức năng các tỉnh Đắk Lắk, Đắk Nông đã khuyến cáo bà con không nên tự ý đi mua giống, không nên phát triển ồ ạt mà phải cận trọng khi phát triển cây mắc ca.
Đặc biệt, bà con phải hạn chế trồng thuần (tức chỉ trồng mỗi mắc ca) mà nên trồng xen canh với các loại cây công nghiệp, cây ăn quả dài ngày như cà phê, bơ, sầu riêng...
Theo anh Trần Văn Tâm-Chuyên viên Phòng Nông nghiệp huyện Tuy Đức (tỉnh Đắk Nông), mỗi giống mắc ca lại phù hợp với mỗi vùng, miền, thổ nhưỡng, khí hậu khác nhau. Do đó, trước khi chọn giống, bà con nên tham khảo ý kiến của cơ quan chuyên môn tại địa phương, đồng thời phải tìm hiểu thực tế ở những trang trại, nương rẫy gần khu vực mình canh tác để có những lựa chọn chính xác nhất.
Cũng theo anh Tâm, hiện các giống mắc ca được đánh giá có chất lượng cao, phù hợp với thổ nhưỡng, khí hậu tại huyện Tuy Đức và cho trái nhiều là dòng OC và 695.
“Hiện giờ chưa có đánh giá, phân tích cụ thể nào về việc giống nào hợp với đất nào. Bởi lẽ, diện tích mắc ca được trồng ở Tuy Đức chủ yếu từ 2012-2014 nên chưa cho thu nhập chính thức. Thông thường, cây mắc ca phải mất từ 7-8 năm mới bắt đầu cho thu nhập chính thức”, vị chuyên viên chia sẻ.
Mắc ca là loài cây lâm nghiệp đa mục đích, ngoài việc chống xói mòn, tăng độ che phủ, cân bằng hệ sinh thái… loài cây này còn mang lại hiệu quả kinh tế khá triển vọng.
Tại Tây Nguyên hiện nay, Lâm Đồng là tỉnh có diện tích trồng mắc ca nhiều nhất, kế đó là Đắk Nông (khoảng 800 ha) và Đắk Lắk (khoảng 760 ha).
(còn tiếp)
Trần Nhân-Hải Dương (infonet)

Có thể bạn quan tâm

Chiếc a chói giữa rừng Trường Sơn

Chiếc a chói giữa rừng Trường Sơn

Dưới mái hiên nhà sàn ở xã La Lay (Quảng Trị), tiếng dao chẻ tre vang lên đều đặn giữa buổi sớm. Nghệ nhân Hồ Văn Thành ngồi bên bó mây vừa lấy từ rừng về. Ông tỉ mẩn đường dao chuốt từng sợi nan tre. Ở miền tây Quảng Trị, hình ảnh ấy không hiếm gặp...

Nghị lực phi thường của người thương binh hạng nặng Lê Thái Hà

Nghị lực phi thường của người thương binh hạng nặng Lê Thái Hà

(GLO)- Khi bị thương nặng tại chiến trường Campuchia, ông Lê Thái Hà (trú phường Bình Định, tỉnh Gia Lai) không nghĩ mình sẽ sống sót. Phục viên với sức khỏe suy giảm đến 91%, ông cũng từng không dám mơ đến những điều xa xôi về tương lai. Vậy mà người cựu chiến binh ấy đã can trường vượt qua tất cả.

4 ngày làm vợ, 54 năm đợi chờ

4 ngày làm vợ, 54 năm đợi chờ

Sau 54 năm kể từ ngày liệt sĩ Nguyễn Văn Đinh ngã xuống trên chiến trường Quảng Trị, bà Nguyễn Thị Ngọ (Nghệ An) mới được đứng trên mảnh đất ông hy sinh. Hành trình ấy khép lại nỗi khắc khoải của một người vợ, nhưng mở ra câu chuyện lay động về tình yêu, sự thủy chung không phai theo năm tháng.

'Bí kíp' nón ngựa nghĩa quân Tây Sơn

'Bí kíp' nón ngựa nghĩa quân Tây Sơn

Nghệ nhân ưu tú Đỗ Văn Lan (80 tuổi, ông Ba Lan) đang giữ nguyên vẹn “bí kíp” tổ truyền làm “nón ngựa Phú Gia” mà ngày xưa nghĩa quân Tây Sơn đội nắng mưa hành quân thần tốc. Những chiếc nón không chỉ như một tác phẩm nghệ thuật mà còn rất bền.

Tiếng vọng trong những phiến đá rêu phong

Tiếng vọng trong những phiến đá rêu phong

(GLO)- Ẩn mình dưới tán rừng già trên dãy núi Bích Kê, lũy đá cổ Phú Hà (thôn Hòa Tân, xã Phù Mỹ Bắc) lặng lẽ tồn tại như một chứng nhân của thời gian. Những bức tường đá phủ rêu bền bỉ trước mưa nắng dường như đang gìn giữ câu chuyện về một vùng đất từng giữ vị trí trọng yếu trong lịch sử.

Chợ ở Quy Nhơn xưa

Chợ ở Quy Nhơn xưa

Với vùng đất Quy Nhơn xưa (nay thuộc tỉnh Gia Lai), tìm hiểu những ngôi chợ cũ cũng là lần giở lại ký ức về quá trình hình thành và phát triển của một đô thị thương cảng, đặc biệt trên phương diện giao thương.

Lính công binh hồi sinh những vùng đất chết

Lính công binh hồi sinh những vùng đất chết

(GLO)- Giữa những cánh rừng và triền núi của phường Bồng Sơn và xã An Toàn, nơi chiến tranh từng đi qua và để lại vô số vết thương, cán bộ, chiến sĩ Lữ đoàn Công binh 7 (Quân đoàn 34) đang lặng lẽ thực hiện nhiệm vụ rà phá bom mìn, trả lại sự an toàn cho đất đai và cuộc sống bình yên cho người dân.

Từ Tiên Nữ đến Núi Le C: Khát vọng xanh giữa trùng khơi

Từ Tiên Nữ đến Núi Le C: Khát vọng xanh giữa trùng khơi

(GLO)- Giữa biển trời Tổ quốc, cán bộ, chiến sĩ đảo Tiên Nữ và Núi Le C vẫn kiên cường bám biển, giữ đảo. Vượt qua nắng gió khắc nghiệt và thiếu thốn nơi đầu sóng, những người lính đảo đang lặng thầm vun đắp màu xanh sự sống, giữ vững chủ quyền thiêng liêng của biển đảo quê hương.

“Đường về” của Siu Un

“Đường về” của Siu Un

(GLO)- Sau những sai lầm trong quá khứ, ông vượt qua mặc cảm, thay đổi nhận thức, trở thành người tích cực tuyên truyền pháp luật, vận động bà con sinh hoạt tôn giáo đúng quy định, góp phần giữ gìn bình yên buôn làng.

Những phận đời bới rác mưu sinh

Những phận đời bới rác mưu sinh

(GLO)- Mỗi buổi sáng, khi phố Núi còn bảng lảng sương sớm, những chuyến xe chở rác lại nối đuôi vào khu tập kết rác xã Gào. Giữa mùi hôi nồng và đàn ruồi dày đặc, những người phụ nữ lặng lẽ cúi mình trên nền đất nhớp nháp, cần mẫn bới tìm chai nhựa, lon bia, giấy vụn…

null