Quanh ngôi đình người Việt đầu tiên trên Tây Nguyên

Theo dõi Báo Gia Lai trên Google News
Giữa lòng thành phố Buôn Ma Thuột, đình Lạc Giao sừng sững như một chứng nhân lịch sử bất tử từ kháng chiến đến thời bình. Năm 1990, đình được Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) công nhận là Di tích Lịch sử văn hóa cấp quốc gia. Hơn 20 năm qua, ngôi đình đầu tiên của người Việt trên mảnh đất Tây Nguyên này có một người đàn ông vẫn âm thầm trông coi. Ông nói rằng đó là định mệnh mà “ông thần” đã chọn ông ở lại.
Cơ duyên
Đình Lạc Giao nằm ở ngã tư đường Phan Bội Châu và Điện Biên Phủ (thành phố Buôn Ma Thuột, Đắk Lắk). Giữa nhịp sống sôi động của thành phố, đình vẫn giữ được không gian yên tĩnh.

Cây đa trước sân đình được trồng từ năm 1990
Cây đa trước sân đình được trồng từ năm 1990
Trong tòa đại đình, người đàn ông 78 tuổi còn rất tinh tường, nhanh nhẹn và khỏe mạnh đang sắp xếp các vật dụng. Ông là Nguyễn Văn Bảy, Phó Ban quản lý các hoạt động Văn hóa của di tích lịch sử đình Lạc Giao.
Rảo bước trên nền gạch giữa sân đình, câu chuyện về cơ duyên với đình cổ được ông Bảy kể say sưa. Gia đình ông quê ở TPHCM nhưng anh chị lên đây làm ăn từ lâu. Năm 1961, ông theo lên Buôn Ma Thuột. “Tôi gắn bó với đình đến nay được 22 năm, đó là cơ duyên giống như ông thần định", ông tâm sự.
Đứng dưới tán cây đa cổ thụ trước sân đình, ông kể: Cách đây 22 năm, một lần ông ghé vào đình tham gia cuộc họp. Ông bày tỏ nguyện vọng mong muốn lớp trẻ có thể tiếp thu được những cái tốt của đình làng. Sau vài lần như vậy, các bô lão bàn nhau mời ông về tham gia cùng họ. “Khi đó, tôi về làm thư kí của làng. Thư kí thời đó làm tất cả mọi việc. Các cụ chỉ tới đây tổ chức lễ và thắp hương thôi”, ông Bảy nói.
Bao năm qua, người dân nơi đây đã quen thuộc với hình ảnh ông Bảy lặng lẽ cần mẫn trông coi đình Lạc Giao. Mỗi ngày, ông đóng mở cửa đón khách tham quan, hướng dẫn khách thập phương các nghi thức truyền thống…vì thế mà giữ được vẹn nguyên sự thành kính, thiêng liêng nơi ghi dấu ấn hào hùng dân tộc. “Bây giờ ở đây có bảo vệ, có người dọn vệ sinh. Hiện nay, đình đang đăng ký tìm một ông Từ đình. Ông Từ đình ở đây thường xuyên, làng nuôi ông, ông lo nhang khói hằng ngày”, ông Bảy cho biết.
Theo nhiều cụ lớn tuổi sinh sống quanh đình Lạc Giao, để giữ gìn được ngôi đình cổ gần trăm tuổi, bên cạnh đạo đức, uy tín trong cộng đồng địa phương, người trông coi đình phải có tâm gìn giữ hồn của đình, phải có duyên nghiệp với đình, với các bậc tiền nhân mở đất mới làm được.
Hiện nay, ông Bảy đang kiêm luôn ông Từ đình. Bao năm nay, ông Bảy coi đình như ngôi nhà thứ hai của mình. Thỉnh thoảng ông về TPHCM nhưng trong lòng cảm giác lo lắng, bồn chồn, đi vài ngày ông phải quay lại đình ngay. “Nhà ở phường Thành Nhất, TP Buôn Ma Thuột, nhưng 80% thời gian tôi ngủ ở đình. Hình như tôi gắn bó với ông thần quá rồi, thấy ở đây thích hơn ở nhà, tâm hồn thoải mái”, ông Bảy bộc bạch.
Linh thiêng chốn đình làng

Lễ tế xuân diễn ra tại đình
Lễ tế xuân diễn ra tại đình
Đình Lạc Giao vẫn giữ kiến trúc xưa dù đã được trùng tu tôn tạo, ai đến đây đều bị níu chân bởi vẻ đẹp kiến trúc cổ kính tuy đơn giản nhưng tinh xảo, không bề thế mà rất gần gũi.
Gắn bó với nơi này, ông Bảy như cuốn từ điển sống về những câu chuyện lịch sử xung quanh đình với sự thay đổi của nhịp sống đô thị qua từng ngày. Đình có từ năm 1928, do ông Phan Hộ dẫn một đoàn người gồm 10 gia đình lên để giao lưu với đồng bào dân tộc bản địa ở đây và trao đổi những gì họ có với người Kinh, thời đó chủ yếu là mắm muối…
Ông Phan Hộ nguyên quán ở Quảng Nam nhưng đưa gia đình vào huyện Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa sinh sống. Từ năm 1922 ông đã nhen nhóm ý tưởng lên miền cao nguyên để tìm hiểu giao lưu, đến năm 1928, ông mới thực hiện được.
Khi đặt chân lên vùng đất này, để có nơi sinh hoạt cộng đồng, ông Phan Hộ và người dân đã xây dựng một ngôi đình lấy tên là Lạc Giao. Năm 1932, lúc đó người Pháp ở đây, họ ký một nghị định thành lập làng Lạc Giao. Cùng thời điểm này, triều đình nhà Nguyễn sắc phong cho đình thờ ông Đào Duy Từ.
“Trên đất hoàng triều cương thổ này có chùa Khải Đoan và đình Lạc Giao là Sắc tứ. Từ năm 1932, đình cũng là đình Sắc tứ nhưng do chiến tranh bị bom đạn, bảng Sắc tứ lưu lạc không còn nữa”, ông Bảy cho biết.
Trải qua thăng trầm lịch sử, ngôi đình vẫn gìn giữ nghi lễ thờ cúng, nét văn hóa xưa. Ông Đỗ Văn Vệ (86 tuổi) có một người anh (đã mất) trước đây làm trong Ban quý tế, giờ ông Vệ theo bước anh mình. 20 năm gắn với ngôi đình, ông Vệ vẹn nguyên suy nghĩ phải nỗ lực gìn giữ ngôi đình cùng những kiến trúc, nghi thức thờ cúng, nét văn hóa xưa… để thế hệ sau có nơi hương khói cho các vị có công mở đất lập làng.
Ông Vệ cho biết, tên gọi Lạc Giao có ý nghĩa là lời giao ước an cư lập nghiệp của người Kinh với người dân tộc bản địa cùng chung sức, chung lòng xây dựng vùng đất mới. Mỗi năm đình có 4 lễ chính. Hai lễ truyền thống xuân thu nhị kỳ là tế xuân (17/1) và tế thu (17/8) âm lịch, mục đích cầu quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa, cầu sức khỏe, làm ăn phát đạt và mọi sự thiện lành; Lễ giỗ Tổ Hùng Vương (10/3); Từ năm 1945 đến nay, vào ngày 27/10 âm lịch tổ chức lễ tưởng niệm 100 chiến sĩ Nam tiến và đồng bào tử nạn tại Buôn Ma Thuột.
Trong những năm 1930-1945, giặc Pháp thành lập hàng loạt nhà tù, trại giam ở Đông Dương, trong đó có nhà đày Buôn Ma Thuột. Thời điểm đó đình Lạc Giao là nơi ghi dấu quá trình hoạt động của dân làng Lạc Giao che chở, nuôi giấu, cưu mang những người con cách mạng, bảo vệ cán bộ hoạt động ở thị xã Buôn Ma Thuột.
Ông Vệ cho biết: “Thời kỳ khởi dựng, đình Lạc Giao được làm bằng chất liệu tranh tre, nứa, mới đại trùng tu được gần 20 năm. Ngôi đình không chỉ giao lưu văn hóa của người Kinh với các dân tộc anh em trên Tây Nguyên mà còn là một chứng tích lịch sử hào hùng. Bộ Văn hóa và Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng Đình Lạc Giao là Di tích Lịch sử cấp Quốc gia ngày 2/3/1990”.
Ông Đinh Một, Giám đốc bảo tàng tỉnh Đắk Lắk cho biết, đình Lạc Giao là đình người Việt đầu tiên ở Tây Nguyên. Hằng năm đều thực hiện nghi thức tế xuân, tế thu và các nghi thức, sự kiện quan trọng trong năm để sau này có cơ hội trao truyền cho lớp trẻ tiếp tục duy trì nghi lễ truyền thống ở đình.
Theo Nguyễn Thảo (TPO)

Có thể bạn quan tâm

Tỷ phú nuôi bò ở Chư A Thai

Tỷ phú nuôi bò ở Chư A Thai

(GLO)- Sáng nào cũng vậy, khi mặt trời vừa lên khỏi dãy núi Chư A Thai, ông Nguyễn Kim Tống (thôn Thanh Thượng, xã Chư A Thai) lại tự lái ô tô vượt quãng đường gần 40 km sang xã Pờ Tó để kiểm tra từng khu chuồng trại, từng đàn bò.

Rẫy chung ở Đak Đoa

Rẫy chung ở Đak Đoa

(GLO)- Giữa những đồi cà phê vào độ chín rộ ở xã Đak Đoa, có những khu rẫy không thuộc về riêng một hộ nào. Đó là rẫy chung - mảnh đất “không chia phần” của cộng đồng, nơi bà con cùng góp công vun trồng, chăm sóc qua từng mùa, lặng lẽ tích lũy thành nguồn lực chung để lo việc thôn, việc làng.

Xuân về làng gốm 500 năm tuổi

Xuân về làng gốm 500 năm tuổi

Từng đoàn khách dập dìu men theo con đường nhỏ dẫn vào làng gốm Thanh Hà (phường Hội An Tây, TP. Đà Nẵng). Ngôi làng nhỏ gần 500 năm tuổi bên dòng Thu Bồn, nơi các thế hệ truyền nhau gìn giữ làng nghề nổi danh xứ Quảng.

Dựng cơ đồ bạc tỷ trên cát trắng

Dựng cơ đồ bạc tỷ trên cát trắng

(GLO)- Trên vùng đất cát trắng bạc màu, “khỉ ho cò gáy”, nông dân Nguyễn Xuân Ánh (SN 1972, thôn Thuận Phong, xã Hội Sơn) đã bền bỉ dựng nên một trang trại tổng hợp gần 10 ha, bình quân lợi nhuận 500 - 700 triệu đồng/năm.

Bo bo vào mùa đẫy hạt

Bo bo vào mùa đẫy hạt

(GLO)- Cuối năm, trên những nương rẫy vùng cao xã Krong (tỉnh Gia Lai), bo bo (còn có tên gọi khác là cao lương, lúa miến, mộc mạch) bước vào thời điểm chín rộ, hạt căng tròn, báo hiệu mùa thu hoạch đã đến.

Pơtao Apui: Vua Lửa của người Jrai

Pơtao Apui: Vua Lửa của người Jrai

(GLO)- Ở khu vực phía Tây tỉnh, trên vùng đất Chư A Thai, truyền thuyết về Pơtao Apui - Vua Lửa của người Jrai đến nay vẫn còn vang vọng. Điều này không chỉ lưu giữ một di sản độc đáo của Tây Nguyên, mà đang trở thành không gian văn hóa - du lịch.

Mưu sinh bên miệng 'tử thần'

Mưu sinh bên miệng 'tử thần'

Khi màn đêm còn phủ đặc sương mặn, cũng là lúc những chiếc thuyền thúng nhỏ bé bắt đầu nghiêng mình lao vào biển động. Ở các làng chài bãi ngang Quảng Ngãi, mùa mưa bão không phải thời điểm trú ẩn, mà trái lại là “mùa vàng” hiếm hoi.

Ký ức lúa nương thiêng

Ký ức lúa nương thiêng

(GLO)- Trên những triền núi ở xã Vân Canh (tỉnh Gia Lai), đồng bào người Chăm H’roi và Bahnar vẫn gieo trồng lúa nương. Với họ, đây không chỉ là vụ mùa mà quan trọng hơn là cách gìn giữ ký ức của cha ông, hương vị thiêng quý của núi rừng.

Tìm lại mình từ bóng tối

Tìm lại mình từ bóng tối

Những cơn “phê” chớp nhoáng, những phút ngông cuồng tuổi trẻ, nông nổi đã đẩy nhiều thanh niên ở Quảng Ngãi lao vào vòng xoáy ma túy. Khi tỉnh lại, trước mắt họ chỉ còn là gia đình tan tác, sức khỏe tàn phá và tương lai bị bóng tối nghiện ngập nuốt chửng.

Căn nhà của bà Đào bị đổ sập hoàn toàn trước cơn lũ dữ.

Những phận người ở rốn lũ Tuy Phước

(GLO)- Chỉ trong vòng nửa tháng, người dân vùng rốn lũ Tuy Phước phải gồng mình gánh chịu 2 đợt bão lũ lịch sử. Bên cạnh những căn nhà trơ trọi sau lũ, những phận người trắng tay vẫn cố gắng gượng dậy, với hy vọng được dựng lại mái ấm và cuộc sống yên bình.

Chuyện cổ tích của buôn làng

Chuyện cổ tích của buôn làng

(GLO)- Ở làng Tươl Ktu (xã Đak Đoa), khi nhắc đến vợ chồng bác sĩ Nay Blum - H’Nơn, người dân nơi đây luôn kể về họ như kể lại những câu chuyện cổ tích. Với họ, đôi vợ chồng bác sĩ ấy là quà của Yang tặng cho làng Tươh Ktu.

Chiêu trò “việc nhẹ, lương cao”: Vỏ bọc tội phạm mua bán người - Kỳ cuối: Cùng ngăn chặn tội ác

Chiêu trò “việc nhẹ, lương cao”: Vỏ bọc tội phạm mua bán người - Kỳ cuối: Cùng ngăn chặn tội ác

(GLO)- Các cơ quan chức năng, nhất là ngành Công an, chính quyền địa phương là lực lượng chủ công trong phòng, chống mua bán người. Tuy nhiên, toàn xã hội cũng phải cùng vào cuộc và quan trọng nhất là mỗi cá nhân phải chủ động bảo vệ mình bằng cách nâng cao nhận thức, hiểu biết pháp luật.

null