Hư thực hầu đồng: Đằng sau vấn hầu

Theo dõi Báo Gia Lai trên Google News
Từ một tín ngưỡng dân gian, gắn với nông nghiệp, cầu mong sự sinh sôi đến tín ngưỡng thương nghiệp, mang lại lợi lộc trong buôn bán, hầu đồng đã thay đổi nhiều phương diện về hệ thống đền phủ, con nhang đệ tử - những người theo tín ngưỡng thờ Mẫu.

Vẻ đẹp đầy nữ tính của ông đồng Đắc Trung trong vấn hầu thánh
Vẻ đẹp đầy nữ tính của ông đồng Đắc Trung trong vấn hầu thánh
Hầu đồng như một minh chứng cho sự phát triển thương nghiệp. Không khó để nhận ra sự phân bố các đền phủ của tín ngưỡng này dựa trên trục giao thương trọng yếu như Hà Nội - Lạng Sơn, Hà Nội - Yên Bái, Lào Cai, Hà Nội - Hải Dương - Hải Phòng - Quảng Ninh, Hà Nội - Nghệ An… rồi theo con đường thiên lý vào nam.
Hầu đồng bạc tỉ
Ở thập niên 1930 - 1950, các vấn hầu thường dành cho nông dân ở nông thôn nặng về căn số. Trang phục trong vấn hầu hình thành rất giản đơn: một bộ áo nâu, các dải lụa thắt lưng, một tấm khăn phủ diện màu đỏ.
Hầu đồng nay chuyển sang lớp người kiếm ra tiền, họ phát lộc nhiều hơn, sắm lễ sang trọng hơn, đó là quyền và mong muốn của các đồng thầy cùng con nhang đệ tử. Trang phục cho đồng giờ rất đắt tiền. Bác sĩ - thanh đồng C.L ở Viện 108 (Hà Nội) tiết lộ về đồng thầy A.Hồng của mình: “Một bộ áo gấm thêu của thầy giá trên 200 triệu, vải được dệt riêng, đo may và thêu hoa văn theo lối cổ, tính đủ trang phục khăn áo, các trang sức, thẻ ngà, bội giắt của 36 giá phải hơn chục tỉ”.
Quả thật, nhìn các vấn hầu mỗi khi vị đồng thầy này ra giá khai hội ở Kiếp Bạc hay Tây Hồ, chỉ tính tiền hoa tươi trên bàn thờ đã từ 200 triệu đồng trở lên, chưa kể sắm lễ với trái cây, vàng mã...
Trong hệ thống đền phủ của tín ngưỡng thờ Mẫu, mỗi điện thờ, mỗi phủ, mỗi vùng miền... lại là những vị đồng thầy khác nhau trấn giữ, có con nhang đệ tử riêng. Cách nhận ra mức độ, quy mô, đẳng cấp cao thấp của đồng thầy, không gì khác hơn là phải... giàu.
Đồng thầy ấy phải có những giá hầu tiền tỉ, gần đây còn cộng thêm cả danh hiệu nghệ nhân dân gian, rồi có học hàm học vị xã hội, nhẹ thì trình đại học, cao hơn là tiến sĩ. Oách nhất là nhiều mối quan hệ mật thiết với quan chức từ T.Ư đến địa phương. Không khó để nhận diện tại các đền phủ, mỗi mùa trình đồng, những vòng hoa trang trí ở vấn hầu bạc tỉ có đầy tên, chức danh những vị đương quan gửi đến chúc mừng.

Tiền là một thước đo được giới đồng cốt lưu tâm khi trình đồng. ẢNH: LAM PHONG
Tiền là một thước đo được giới đồng cốt lưu tâm khi trình đồng. ẢNH: LAM PHONG
Bây giờ, để được ra trình đồng cần nhất là tiền, sau mới bàn chuyện căn số. Không tiền không thể trình đồng. Tín ngưỡng hầu đồng thực tế là sinh hoạt thương mại, có sự kết nối giữa đồng thầy (thủ nhang đồng đền) - cung văn - thanh đồng. Muốn trình đồng, thanh đồng thuê đền phủ, rẻ nhất cũng từ 1 - 3 triệu (tiền giọt dầu), tiền thuê cung văn (chưa phải hàng ngôi sao đang nổi như tứ đại Long - Chung - Quỳnh - Mạnh) từ 15 - 20 triệu, tiền quà - tán lộc cho con nhang đệ tử đến dự, tiền trang trí cửa Mẫu cũng phải hơn chục triệu. Gom lại mỗi vấn hầu, bét nhất cũng trên 30 triệu đồng.
Một khi đã nảy sinh tính thương mại, tất yếu có cạnh tranh, hầu đồng cũng rơi vào vòng xoáy này. Đồng thầy muốn sang khăn, mở phủ cho đệ tử cũng ít nhiều nhìn vào năng lực tài chính, chọn người cùng hệ, cùng đẳng để lập cơ cánh riêng. Vị bác sĩ C.L kể trên tiết lộ anh tốn hết 250 triệu để đồng thầy mở phủ, anh mang căn ông Hoàng Mười, mỗi năm hành hương về Nghệ An trình đồng, đi theo là 3 xe tải đồ lễ.
Khắp các chiếu đồng, có vị con nhang đệ tử toàn quyền cao chức trọng, có vị là dân làm ăn lớn ở lĩnh vực xuất nhập khẩu, tài chính... Và đồng thầy bây giờ, đều có điểm chung là rất giàu.
Việc cạnh tranh nhau xem giá đồng nào sang, quần áo đồng thầy nào đắt giá, tiền tán lộc nhiều - nội tệ hay ngoại tệ, trang trí điện thờ đẹp, cung văn nổi tiếng, đồ lễ ngoại nhập... là cuộc chạy đua ngầm của nhiều ông đồng bà cốt trong tín ngưỡng thờ Mẫu.
Thân sâu hồn bướm
Ngoài vấn đề tiền bạc, ẩn sau đền phủ của nhiều vị đồng thầy là thế giới đặc biệt dành riêng cho những người mang giới tính không rõ ràng. Dân gian gọi là đồng cô - thân xác đàn ông nhưng tâm tính, cử chỉ, giọng nói mang tính nữ.

Cô đồng trên tay mâm tiền tán lộc thánh ở đền Hai Cô, Yên Phụ
Cô đồng trên tay mâm tiền tán lộc thánh ở đền Hai Cô, Yên Phụ
Lúc sinh thời, GS-TS Ngô Đức Thịnh (nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu văn hóa Việt Nam) lý giải: “Theo quan niệm dân gian, người có khả năng lên đồng là những người nhẹ vía nên rất ít bà cốt là ái nam, nhưng phần lớn ông đồng mang tính ái nữ. Những người giới tính không rõ ràng rất nhạy cảm, khả năng lên đồng dễ dàng hơn so với người thường”.
Trong các giá hầu thánh, hình ảnh hóa thân vào các nhân vật trong 36 giá đồng phần nhiều là nữ nên với những người “ái nam, ái nữ” trước đây, chiếu đồng là nơi đáp ứng, giải tỏa, giúp họ là chính mình mà không ngại thị phi của người đời.
Trong giới đồng thầy, người dám công bố là đồng cô không nhiều, hiếm hoi có thể kể đến đồng thầy Lưu Ngọc Đức, thủ nhang Lảnh Giang vọng từ (Hàng Hành, Hà Nội). Còn lại hầu hết vẫn âm thầm giấu kín giới tính thực của mình, chỉ những sinh hoạt sau chiếu đồng họ mới phát lộ.
Đến điện thờ Linh Vương Long của Đắc Trung, một đồng thầy trẻ tuổi trong giới đồng Hà Nội, khi chỉ mới đôi mươi đã lập điện, trình đồng, mở phủ, có con nhang đệ tử lo việc nhang đèn. Gặp cậu đệ tử dưới nhà đang mải tập các động tác múa khi lên đồng, với giọng nhỏ nhẹ như con gái, cậu bảo trước kia làm nghề cắm hoa, sau theo Mẫu về với thầy Trung giúp cậu nhang đèn, làm hầu dâng mỗi khi cậu trình đồng. Hỏi thẳng đồng Trung về chuyện đồng bóng, “bóng” ở đây có phải để ám chỉ những người mang giới tính thứ ba? Trung khéo léo đáp: “Đồng bóng có nhiều nghĩa, người phụng sự thánh như chúng em thì bóng ở đây là bóng thánh, chỉ thân xác là của đồng. Một khi đã bắc ghế hầu thánh, giới tính không quan trọng nữa”.
Ở đền Hai Cô (Yên Phụ), mỗi khi thanh đồng H.D trình đồng, cả đội quân 12 ái nam ái nữ tụ tập, mặc theo lối áo bà ba trắng, quần lưng thun, xưng là hội quần chun. Có dịp đến đền vào buổi tối trước ngày trình đồng, hội quần chun tụ tập, sắp lễ, chí chóe nhau như mổ bò. Gọi nhau toàn xưng con kia, đĩ nọ, đành hanh các kiểu. Ngày trình đồng, cả nhóm mang bộ mặt khác hẳn, ai nấy nghiêm trang, uốn đưa theo làn điệu chầu văn và bước chân sáo thanh đồng, mừng vui hoan hỉ.
Nói về chuyện giới tính trong lên đồng, con nhang Đức Hiệp (Hòa Bình) không ngần ngại: “Bọn em đủ kiểu, bóng lộ có, bóng kín có, gái thì ô môi, lét (lesbian - đồng tính nữ). Lắm đứa trong nhóm chay mặn đều dùng được (quan hệ cả hai giới), nhưng chỉ trong hội với nhau, ra ngoài kín tiếng lắm”. Thanh đồng không tìm được người thương đành tự an ủi: “Có duyên cô rẽ duyên ra, có con thì để cho bà nó nuôi”.
Lợi dụng danh tính, tiền tài, đẳng cấp các vị đồng thầy nơi cửa Mẫu, thiếu một vị minh chủ dẫn đầu, cùng những vấn nạn mượn tín ngưỡng dân gian làm nơi giải tỏa căng thẳng xã hội, khiến hầu đồng bên cạnh những cái hay, đẹp vẫn luôn tồn tại những hệ lụy. Việc chấn hưng tín ngưỡng hầu đồng, hạn chế biến tướng, đưa nét đẹp của hầu đồng thành quy chuẩn là câu chuyện dài tập.
(còn tiếp)
Trình đồng bằng ngoại tệ
Đồng Hương (Hà Nội) cho biết mỗi lần trình đồng ở xứ người, chị không dùng tiền Việt, mà thay bằng USD hoặc euro. Bạn chị học Nga về, chồng xưa là “soái” bên đấy, vấn hầu tại điện thờ ở nhà chơi toàn tiền Nga, ăn đồ Nga, uống vodka Nga, “các ngài về nó cho hưởng đồ Nga toàn tập, vãi chưởng luôn”.
Trong khi đó, theo họa sĩ Lương Xuân Đoàn, Chủ tịch Hội Mỹ thuật Việt Nam: “Ngày xưa, những người có căn số, nghèo quá không đủ tiền ra trình đồng vẫn có thể bắc ghế hầu thánh bằng lễ vật đơn sơ, phù hợp với khả năng của họ, và nghi lễ lên đồng vẫn diễn ra tốt đẹp. Người trong giới gọi họ là đồng tủi. Ngày nay không còn thấy đồng tủi nữa”.
Theo Lam Phong (TNO)

Có thể bạn quan tâm

Mùa săn kiến vàng

Mùa săn kiến vàng ở cao nguyên Gia Lai

(GLO)- Khi mùa khô phủ nắng lên những cánh rừng phía Tây Gia Lai, người Jrai bước vào mùa săn kiến vàng. Hành trình tìm kiếm những tổ kiến tuy nhọc nhằn nhưng cũng thú vị, thể hiện sự gắn bó giữa đồng bào dân tộc thiểu số với thiên nhiên từ xưa đến nay.

Ngày mới bên sông Pô Cô

E-magazine Ngày mới bên sông Pô Cô

(GLO)- Sớm mai ở Ia Krái, dòng Pô Cô uốn lượn như dải lụa bạc giữa mênh mông cây cối. Nước sông lăn tăn, gợn sóng nhỏ vỗ vào bãi cát vàng, len qua vườn rẫy, tạo thành một bản hòa ca của thiên nhiên và con người.

Giữ cây thuốc quý giữa đại ngàn An Toàn

Giữ cây thuốc quý giữa đại ngàn An Toàn

(GLO)- Tự xa xưa người Bahnar ở đại ngàn An Toàn (tỉnh Gia Lai) đã biết sử dụng nhiều loài cây rừng để làm thuốc chữa bệnh. Kinh nghiệm được chắt lọc qua nhiều thế hệ, không chỉ chăm sóc sức khỏe cộng đồng mà còn thể hiện sự am hiểu sâu sắc về tự nhiên, góp phần gìn giữ giá trị y học dân gian.

Xây dựng thế trận lòng dân nơi tà đạo "Hà Mòn" đi qua - Kỳ cuối: Xây dựng thế trận lòng dân- tường lửa ngăn tà đạo

E-magazine Xây dựng thế trận lòng dân nơi tà đạo "Hà Mòn" đi qua - Kỳ cuối: Xây dựng thế trận lòng dân- tường lửa ngăn tà đạo

(GLO)- Ba đối tượng cốt cán cuối cùng của tà đạo “Hà Mòn” bị bắt giữ tại khu vực núi Jơ Mông (giáp ranh xã Hra và xã Lơ Pang) vào ngày 19-3-2020 đã đánh dấu bước ngoặt quan trọng, khép lại hành trình đấu tranh kéo dài hơn một thập kỷ.

'Sói biển' Lý Sơn và hành trình nối biển ra Hoàng Sa

'Sói biển' Lý Sơn và hành trình nối biển ra Hoàng Sa

Ở đặc khu Lý Sơn (Quảng Ngãi), lão ngư Dương Minh Thạnh được nhiều ngư dân gọi là “lão ngư Hoàng Sa” bởi có công “nối biển” Lý Sơn ra quần đảo Hoàng Sa. Ông còn được mệnh danh là “sói biển” Lý Sơn, bởi sức vươn khơi dẻo dai, từng 5 lần thoát chết thần kỳ giữa bão biển.

Thúng chai lên phố

Thúng chai lên phố

Nghề đan thuyền thúng bằng tre (thúng chai) dùng để đi biển đánh bắt hải sản sau hàng trăm năm giờ đang dần mai một. Những ngư dân miền Trung vẫn âm thầm bám nghề bằng tình yêu mưa nắng đời người, và ngày càng nhiều những chiếc thúng chai rời biển về phố làm du lịch.

Những chuyện tình xuyên biên giới ở Ia O

Những chuyện tình xuyên biên giới ở Ia O

(GLO)- Trên vùng biên Ia O (tỉnh Gia Lai), dòng Pô Cô vừa là ranh giới tự nhiên, vừa là nhịp cầu kết nối lương duyên. Từ những lần qua lại thăm thân, dự lễ hội, nhiều mối tình nảy nở, hình thành nên những mái ấm xuyên biên giới bình dị, bền bỉ, góp phần dệt nên diện mạo riêng nơi phên giậu Tổ quốc.

Làng bồng bềnh trên dòng Pô Kô

Làng bồng bềnh trên dòng Pô Kô

Giữa miền biên viễn phía tây Gia Lai, trên dòng Pô Kô hùng vĩ, hàng chục gia đình từ Tây Nam bộ tìm đến lập nghiệp, dựng nên những căn nhà nổi chông chênh giữa sóng nước. Cuộc mưu sinh lặng lẽ thể hiện nghị lực của con người, ý chí bám trụ và khát vọng sống chan hòa cùng sông nước.

Bấp bênh xóm chài vùng biên

Bấp bênh xóm chài vùng biên

(GLO)- Xóm chài trên mặt hồ thủy điện Sê San (làng Tăng, xã Ia O) hiện có 17 hộ với 58 nhân khẩu, đến từ các tỉnh ở miền Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ. Không đất ở, thiếu giấy tờ tùy thân, họ tự dựng nhà bè, bám lấy con nước để mưu sinh.

Đêm đập trống dưới ánh trăng rừng

Đêm đập trống dưới ánh trăng rừng

Giữa vùng lõi của Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng, nơi núi đá vôi dựng đứng như những bức tường thành và rừng già nối tiếp đến tận biên Việt - Lào, có một lễ hội mà mỗi nhịp trống vang lên dường như làm nghiêng ngả cả đại ngàn: Lễ hội Đập trống của người Ma Coong.

'Rừng thiêng' giữa đại ngàn

'Rừng thiêng' giữa đại ngàn

Giữa đại ngàn Trường Sơn hùng vĩ, nơi mây trắng quấn quýt những đỉnh núi của vùng cao Đà Nẵng, có một cánh rừng không chỉ xanh bởi lá, mà còn xanh bởi ký ức. Người dân gọi đó là 'rừng bác Năm Công'.

Cán bộ trại giam động viên, chia sẻ với phạm nhân.

Tình người sau cánh cổng trại giam

(GLO)- Từ những câu chuyện rất thật của người trong cuộc, có thể thấy tính nhân văn trong công tác giáo dục, cải tạo phạm nhân tại Trại tạm giam số 1, Công an tỉnh Gia Lai. Đó là nơi cán bộ, chiến sĩ đang kiên trì cảm hóa những người lầm lỗi bằng trách nhiệm và lòng nhân ái.

Vị linh mục hiến kế chống Pháp

Vị linh mục hiến kế chống Pháp

(GLO)- “Chuyện giặc Pháp xâm lăng ngang ngược, xin ra lịnh cho người có đạo giúp nước lập công, ai phản nghịch sẽ giết cả họ. Kẻ có đạo dù có thịt nát xương tan cũng cố báo đền ơn nước, quyết chẳng hai lòng”.

null