Chính trị

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

QUY ĐỊNH SỐ 21-QĐ/TW VỀ CÔNG TÁC KIỂM TRA, GIÁM SÁT VÀ KỶ LUẬT CỦA ĐẢNG:

Góp phần đảm bảo tính nghiêm minh trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng

Theo dõi Báo Gia Lai trên Google News
(GLO)- Quy định số 21-QĐ/TW ngày 11-4-2026 về công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật của Đảng được kỳ vọng sẽ phát huy hiệu quả trong thực tiễn, góp phần đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong tình hình mới.

Trong quá trình đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay, việc hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực và siết chặt kỷ luật, kỷ cương luôn được xác định là nhiệm vụ quan trọng.

Một trong những vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc trong Quy định số 21-QĐ/TW vừa được Ban Chấp hành Trung ương Đảng ban hành là việc xác định phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng.

Cụ thể, khoản 2 Điều 1 xác định: “Quy định này áp dụng đối với tổ chức đảng và đảng viên, bao gồm cả tổ chức đảng đã hết nhiệm kỳ hoạt động, đã giải thể hoặc thay đổi do chia tách, sáp nhập về mặt tổ chức; đảng viên đã chuyển công tác, nghỉ việc, nghỉ hưu”.

Điều này phản ánh sự nhận thức và quyết tâm chính trị của Đảng về tiếp tục xây dựng kỷ luật nghiêm minh, không có vùng cấm, không có ngoại lệ đối với vi phạm của cán bộ, đảng viên, tổ chức đảng.

Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương Trần Sỹ Thanh giới thiệu Quy định số 21-QĐ/TW về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng.

Trước hết, cần khẳng định rằng quyền lực trong Đảng là quyền lực được giao trên cơ sở niềm tin chính trị của tổ chức và nhân dân, gắn liền với trách nhiệm cụ thể. Mọi quyền lực nếu không được kiểm soát chặt chẽ sẽ dẫn đến nguy cơ lạm quyền, tha hóa. Do đó, nguyên tắc nhất quán được đặt ra là quyền lực đến đâu, trách nhiệm đến đó; trách nhiệm không chấm dứt khi thôi giữ chức vụ hoặc nghỉ công tác. Nếu việc xử lý vi phạm chỉ giới hạn trong thời gian đương chức thì sẽ tạo ra khoảng trống trong kiểm soát quyền lực, làm suy giảm tính răn đe.

Mặt khác, kỷ luật của Đảng mang nhiều đặc trưng cơ bản. Đó là kỷ luật “sắt”, nghiêm minh, tự giác, bình đẳng và liên tục. Tính nghiêm minh đòi hỏi mọi vi phạm đều phải được xử lý; tính bình đẳng yêu cầu không có ngoại lệ đối với bất kỳ cá nhân, tổ chức nào; còn tính liên tục thể hiện ở chỗ việc xem xét trách nhiệm không bị giới hạn bởi yếu tố thời gian hay vị trí công tác. Việc xác định phạm vi kỷ luật trong Quy định số 21-QĐ/TW chính là sự cụ thể hóa đầy đủ và sâu sắc các nguyên tắc này trong điều kiện mới.

Kế thừa các quy định trước đây (đặc biệt là Quy định số 296-QĐ/TW ngày 30-5-2025 về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng), có thể thấy rõ tầm quan trọng của việc xác định phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng của Quy định số 21-QĐ/TW.

Trước đây, phạm vi kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật cũng đã xác định đối với tổ chức đảng và đảng viên, bao gồm cả tổ chức đảng đã hết nhiệm kỳ hoạt động, đã giải thể hoặc thay đổi do chia tách, sáp nhập về mặt tổ chức; đảng viên đã chuyển công tác, nghỉ việc, nghỉ hưu. Song, việc xem xét trách nhiệm đối với các trường hợp đã nghỉ hưu, chuyển công tác hoặc tổ chức đã giải thể đôi khi còn chưa có cơ sở pháp lý rõ ràng, dẫn đến khó khăn trong thực tiễn xử lý. Hệ quả là ở một số nơi, từng xuất hiện biểu hiện né tránh trách nhiệm, thậm chí hình thành tâm lý “hạ cánh an toàn”, làm giảm hiệu lực, hiệu quả của kỷ luật Đảng.

Do vậy, Quy định số 21-QĐ/TW tiếp tục nhấn mạnh: Dù tổ chức đã giải thể hay cá nhân đã nghỉ công tác, nếu có vi phạm vẫn phải bị xem xét, xử lý. Đây là sự chuyển biến từ tư duy “quản lý hành chính” sang tư duy “kiểm soát quyền lực” một cách toàn diện, liên tục.

Kỳ họp thứ 70 của Ủy ban Kiểm tra Trung ương khóa XIII.

Việc khẳng định tính nghiêm minh đặt ra từ Quy định số 21-QĐ/TW có ý nghĩa hết sức quan trọng. Trước hết, Quy định góp phần xóa bỏ triệt để tư duy “hạ cánh an toàn”. Khi mọi vi phạm đều có thể bị xem xét bất kể thời điểm phát hiện, cán bộ, đảng viên buộc phải nâng cao ý thức trách nhiệm trong suốt quá trình công tác.

Thứ hai, Quy định góp phần tăng cường hiệu lực kiểm soát quyền lực. Không chỉ trong thời gian đương chức mà cả giai đoạn cuối nhiệm kỳ hay sau khi nghỉ hưu, giải thể, sáp nhập, đảng viên, tổ chức đảng vẫn phải chịu trách nhiệm về hành vi, hoạt động của mình. Điều này hạn chế nguy cơ lợi dụng chức vụ, quyền hạn để trục lợi.

Thứ ba, Quy định góp phần bảo đảm nguyên tắc công bằng, bình đẳng trong Đảng. Mọi đảng viên, dù ở cương vị nào, thời điểm nào, đều bình đẳng trước kỷ luật của Đảng. Qua đó, củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với sự nghiêm minh của Đảng.

Trong thời gian qua, thực tiễn đã ghi nhận nhiều trường hợp đảng viên (kể cả đảng viên giữ vị trí, chức vụ cao) dù đã nghỉ hưu vẫn bị xem xét, thi hành kỷ luật khi phát hiện có vi phạm. Đồng thời, một số tổ chức đảng sau khi giải thể vẫn bị kiểm tra, làm rõ trách nhiệm đối với những sai phạm trong thời kỳ hoạt động. Tuy nhiên, đôi khi vẫn chưa thể xử lý triệt để đối với những tổ chức đảng và đảng viên vi phạm. Thực trạng đó cho thấy các quy định không chỉ dừng lại ở văn bản mà phải được triển khai nghiêm túc, đồng bộ trong thực tế. Qua đó, tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa từ kỷ luật của Đảng ngày càng được nâng cao.

Tóm lại, việc xác định phạm vi áp dụng kỷ luật trong Quy định số 21-QĐ/TW là yếu tố quan trọng trong tư duy và hành động của Đảng về xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong giai đoạn hiện nay. Quy định này khẳng định rõ: Kỷ luật của Đảng không bị giới hạn bởi thời gian hay chức vụ, mà là kỷ luật xuyên suốt trong toàn bộ quá trình hoạt động chính trị của mỗi đảng viên và tổ chức đảng. Qua đó, tiếp tục củng cố nguyên tắc không có vùng cấm, không có ngoại lệ, không thể “hạ cánh an toàn”; góp phần xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.

Có thể bạn quan tâm