Bài 2: Đời lính và những "bài ca không quên"

Theo dõi Báo Gia Lai trên Google News

(GLO)- 6.000 ngày, dưới mưa bom bão đạn cản trở của địch, họ cùng đồng đội của mình đã không quản máu xương để bảo vệ từng cung đường, sao cho công tác chi viện được thông suốt từ hậu phương lớn miền Bắc đến tiền tuyến lớn miền Nam. Và cũng chính trên tuyến Trường Sơn ác liệt đó, những kỷ niệm vui buồn, khổ đau lẫn hạnh phúc đã theo họ gần trọn đời người.

Kiên quyết giữ vững tuyến “huyết mạch”
 

Ông Thị kể lại những tháng ngày gùi, thồ hàng ở Trường Sơn. Ảnh: Nguyễn Giác
Ông Thị kể lại những tháng ngày gùi, thồ hàng ở Trường Sơn. Ảnh: Nguyễn Giác

Theo chia sẻ của các cựu binh, đường Trường Sơn khi ấy với ta là tuyến đường “huyết mạch” để vận chuyển hàng quân sự vào Nam; tổ chức đưa đón cán bộ, bộ đội, chuyển công văn, tài liệu từ Bắc vào Nam và ngược lại. Do đó, Mỹ-Ngụy không ngừng thực hiện các trận oanh kích, trút xuống hàng triệu tấn bom, đạn hòng phá hủy và ngăn chặn tuyến chi viện chiến lược này. Bộ đội ta dẫu phải hy sinh vẫn ngày đêm ra sức bảo vệ và mở rộng tuyến đường, bí mật vận chuyển vũ khí, khí tài, đạn dược, thuốc men, lương thực-thực phẩm… vào các chiến trường.
 

Giai đoạn đầu hoạt động trên con đường bí mật xuyên rừng rậm, núi cao ấy, hàng hóa quân sự được quân ta vận chuyển thô sơ bằng gùi, xe đạp thồ, nhỏ lẻ với khoảng cách ngắn. “Đó là những năm tháng khó khăn, vất vả nhưng thể hiện ý chí và quyết tâm cao độ của bộ đội ta”-cựu binh Nguyễn Văn Thị (SN 1933, ngụ tại số nhà 987 Quang Trung-TP. Quảng Ngãi-tỉnh Quảng Ngãi) đã khẳng định chắc nịch với chúng tôi như thế. Ông nhớ lại: “Năm 1962, tôi trực tiếp ra Hà Nội nhận 2.000 chiếc xe đạp chuyển xuống chiến trường Quảng Nam, Quảng Ngãi để thồ hàng. Khối lượng thồ tùy theo khả năng của từng người, nhưng trung bình lúc đó mỗi chiếc xe đạp chúng tôi thường thồ được 1 tạ, người yếu hơn cũng phải được 50-70 kg. Cứ thế, lên dốc thì 3-4 người phụ đẩy, xuống dốc thì phụ ghì kéo. Khi ấy, đơn vị tôi đóng hàng ở Bản Ken (phía Nam đường 9) giao cho huyện Mường Noong (Lào), sau đó chuyển đến sông Bạc (phía Nam Huế). Bên cạnh vận chuyển bằng xe đạp, chúng tôi còn thực hiện gùi hàng trên lưng, mỗi người cũng cỡ 40-70 kg”.
 

Dẫu biết chiến tranh không thể tránh khỏi thương vong, mất mát, song như trải lòng của các cựu binh Trường Sơn mà chúng tôi gặp, không gì đau lòng bằng việc nhìn thấy đồng đội hy sinh trước mặt mình. “Chẳng những chết vì bom đạn mà trong những lần gùi, thồ hàng, cũng bởi địa thế đường rừng hiểm trở, phải trèo đèo, vượt dốc, không ít người trong chúng tôi đã sẩy chân và mãi mãi nằm lại bên đường hoặc bị thương tật suốt đời. Tôi còn nhớ trong một lần giao hàng vào năm 1963, trên đường về qua cầu tre, có người trong đoàn bị rơi xuống suối, đầu va vào đá rồi thành ra câm, điếc”-ông Thị tâm sự. Ông  Hà Di Quế (tổ dân phố 1, phường Trương Quang Trọng, TP. Quảng Ngãi) tiếp lời: “Năm 1960, trong lúc chuyển hàng vào làng Ho (Lệ Thủy, Quảng Bình), hầu hết vận chuyển bằng gùi, một bên là núi cao, một bên là vực thẳm, đá lởm chởm, trơn trượt, chỉ cần sơ sẩy là tụt tay, nhiều đồng đội của tôi đã bị rơi xuống vực, cả đoàn chỉ biết đau đớn nhìn đồng đội hy sinh mà không thể làm gì”.

Khi cách mạng miền Nam phát triển, nhu cầu vận tải ngày càng lớn, những phương thức vận tải thô sơ trở nên bất cập. Bởi vậy, từ đường gùi thồ, Đoàn 559 đã tiến tới mở thêm đường cho xe cơ giới. Năm 1961 với tuyến đường mới mở, Đoàn đã vận chuyển giao cho Khu 5 được 317 tấn vũ khí, trang bị, 52 tấn hàng dân dụng; vận chuyển, tiếp tế hành quân 91 tấn gạo; tiếp tế cho Mặt trận Trị-Thiên 29 tấn gạo, muối; 117 tấn vũ khí trang bị được chuyển tải trên tuyến, lập chân hàng ở khu vực đường 9; bảo đảm cho bộ đội Khu 5 ra trực tiếp lấy 324 tấn gạo; tổ chức đưa đón 7.664 cán bộ, chiến sĩ  tăng cường cho các chiến trường và 616 người từ Nam ra Bắc tuyệt đối bí mật, an toàn.

“Ngoài gùi, thồ, xe ô tô, ta còn bí mật vận chuyển đạn, gạo ở các dòng sông bằng cách bỏ vào bao ni-lông (50 kg/bao) buộc kín rồi cho trôi, cứ 1 km có 3 người trực chốt để nhỡ bị vướng vào đâu thì gỡ. Cách này chủ yếu thực hiện từ tháng 8-10 khi vào mùa mưa, nước sông nhiều, dâng cao, còn đến mùa khô thì dừng”-cựu binh Lê Đình Uýnh (SN 1939, trú tại 14 Nguyễn Hữu Thọ-phường Hàm Thuận Tây-quận Hải Châu-TP. Đà Nẵng) cho hay.

 

Cựu binh thăm quan khu mô phỏng đường Trường Sơn tại Bảo tàng tỉnh Quảng Trị. Ảnh: Nguyễn Giác
Cựu binh tham quan khu mô phỏng đường Trường Sơn tại Bảo tàng tỉnh Quảng Trị. Ảnh: Nguyễn Giác

Càng đi đến cuối cuộc chiến, đường Trường Sơn càng trở thành trọng điểm ngăn chặn quyết liệt của địch bằng mọi thủ đoạn xảo quyệt với các loại vũ khí tinh vi, hiện đại nhất. Thế nhưng, lớp lớp cán bộ, chiến sĩ, công binh, thanh niên xung phong đã nguyện làm “tường đồng, vách sắt”, kiên cường bám trụ, giành giật từng thước đường, bởi “máu có thể đổ nhưng đường không thể tắc”. Ông Bùi Trung Trắc (106 Phan Văn Đính, phường Hòa Khánh Bắc, quận Liên Chiểu, TP. Đà Nẵng) bồi hồi kể: “Tham gia 559 từ năm 1971, làm nhiệm vụ lái xe. Sau 45 ngày học lái, tôi bắt đầu chở hàng theo 2 tuyến: từ Quảng Bình đi trạm 32 (Lào) và từ Quảng Bình đi Stungtreng (Campuchia). Mỗi chuyến chúng tôi chở khoảng 4 tấn, những năm 1971-1972 chạy đường kín, ban đêm, đến 1973 chạy cả ban ngày theo đường ngụy trang. Năm 1972, Mỹ đánh bom bi vào trạm 32, nổ suốt 4 tiếng đồng hồ, đoàn chúng tôi hy sinh 1 người, hư hỏng 7-8 xe. Lái xe chúng tôi ngày đó sợ nhất là máy bay C130 của Mỹ vì nó đánh rất chuẩn xác”.

Hạnh phúc “nở hoa” từ chiến trường

 

Bà Hoa với bức ảnh chụp đoàn văn công của mình biểu diễn phục vụ tại Trường Sơn. Ảnh: Nguyễn Giác
Bà Hoa với bức ảnh chụp đoàn văn công của mình biểu diễn phục vụ tại Trường Sơn. Ảnh: Nguyễn Giác

Trường Sơn trong hồi ức của những cựu chiến binh ngoài sự khốc liệt của chiến tranh, sự hy sinh quả cảm của đồng đội còn có những kỷ niệm hết sức đẹp đẽ và nhẹ nhàng. Bởi lẽ, đó là nơi “đơm chồi nảy lộc” cho bao tình yêu đẹp, viên mãn đến tận bây giờ.

42 năm trước (1972), cô văn công của Đoàn văn công quân giải phóng Trị-Thiên-Huế Nguyễn Thị Phương Hoa khi ấy mới tròn 18 tuổi. Trong một đêm phục vụ văn nghệ tại đơn vị công binh, cô và anh lính Phan Lương Can (28 tuổi) đã đem lòng thương mến nhau. Những cánh thư cũng từ đó ngày một nhiều hơn theo bước anh phá bom lấp đường, theo tiếng hát ngân vang xua tan không khí chiến tranh khắc nghiệt của cô gái trẻ. Trong thư, họ kể cho nhau nghe chuyện chiến trường, chuyện phục vụ; họ trao cho nhau tiếng nhớ lời thương qua từng nét mực nhòe trên trang giấy nhuốm màu súng đạn và không quên lời hứa hẹn về một cái kết có hậu khi đất nước được hòa bình. “Mỗi lần nhận thư, đọc những lời chân tình của anh là tôi rưng rưng lệ. Anh rất lạc quan và luôn động viên tôi phải cố gắng sống đợi ngày độc lập. Vui nhất là lúc nào anh cũng gửi kèm quà theo thư cho tôi, khi nhánh lan rừng, lúc bình nước mát, có cả chiếc lược chải tóc tự tay anh làm từ xác máy bay. Tất cả những kỷ vật đó, tôi còn giữ lại hết cho đến ngày hạnh ngộ và nên duyên vợ chồng vào cuối năm 1975”-cô Hoa chia sẻ.

 

 Các cựu binh Trường Sơn ở Đà Nẵng nói về quyết tâm giữ vững tuyến đường chi viện của quân ta. Ảnh: Nguyễn Giác
Các cựu binh Trường Sơn ở Đà Nẵng nói về quyết tâm giữ vững tuyến đường chi viện của quân ta. Ảnh: Nguyễn Giác

Giờ đây, gia đình cựu binh Can và Hoa vẫn đang sống hạnh phúc nơi mái ấm của mình tại 12/91 Trần Hưng Đạo, TP. Đông Hà, tỉnh Quảng Trị. Hai người con đều đã thành đạt, một là diễn viên Nhà hát Nghệ thuật truyền thống Cung đình Huế, một là họa sĩ và đều đang công tác tại TP. Huế.
 

Có một câu chuyện vui nhưng có thật kể về cuộc gặp gỡ giữa một nhà báo Anh và Thiếu tướng Nguyễn An (người đã chiến đấu và am hiểu cặn kẽ Trường Sơn). Để giải đáp những thắc mắc của nhà báo Anh này, sau khi miêu tả cặn kẽ kết cấu của con đường, đồng chí Nguyễn An đã nói rằng: "Để dễ tưởng tượng thì diện tích của đường mòn Hồ Chí Minh vào khoảng hơn 140.000km2, tức là lớn hơn diện tích nước Anh một chút xíu". Đáp lại lời Thiếu tướng là một cái nhún vai đầy kinh ngạc của nhà báo Anh: "Ồ, thế mà dám gọi là đường mòn ư"?

Cũng là một tình yêu đầy trong sáng và đẹp đẽ bên dãy Trường Sơn, song câu chuyện của cựu binh già Hà Di Quế lại gặp phải không ít thăng trầm, cách trở. Theo dòng xúc cảm hoài niệm về quá khứ, ông bộc bạch với chúng tôi rằng, ông dành trọn niềm thương nhớ cho một người con gái thanh niên xung phong sau đúng 2 lần gặp gỡ. Và may mắn thay, người đó cũng đáp lại tấm chân tình của ông. Cũng những lá thư mong nhớ, cũng những ước hẹn lứa đôi cho ngày về từ chiến trường… thế nhưng, đến năm 1972, ông Quế bị thương trong một lần chuyển hàng, phải về miền Bắc điều trị. Họ mất liên lạc với nhau từ ấy. “Mặc dù bặt vô âm tín nhưng tôi vẫn tin rằng người đó đang giữ lời hứa với tôi là sống bình an. Sau này hòa bình, tôi đi tìm cô ấy ở Hưng Yên theo địa chỉ chúng tôi trao nhau. Hạnh phúc vỡ òa khi cả hai gặp lại nhau rồi đi đến hôn nhân, chung sống trọn nghĩa tình đến gần cuối cuộc đời”-ông Quế xúc động nói.

Và còn rất nhiều những chuyện tình bình dị trong đời lính như thế. Người đến được với nhau, người không đến được với nhau, thậm chí là vĩnh viễn ở bên nhau trong lòng đất mẹ. Thế nhưng tình yêu ấy đã từng là một trong những nguồn động viên tinh thần to lớn, là sức mạnh vô hình, chứa đựng niềm lạc quan, tin tưởng vào ngày mai tươi đẹp, từ đó, giúp họ kiên cường vượt qua bão đạn mưa bom, đương đầu với quân thù cho đến ngày toàn thắng.    

M.Dưỡng-T.Dung-H.Thi-N.Giác

Có thể bạn quan tâm

Xây thế trận lòng dân từ sâu rễ bền gốc nơi tà đạo Hà Mòn đi qua

E-magazine Xây dựng thế trận lòng dân nơi tà đạo Hà Mòn đi qua - Kỳ 2: Tỉnh ngộ sau chuỗi ngày tối tăm

(GLO)- Phía sau những lời hứa hẹn mơ hồ về một cuộc sống sung túc không cần lao động. Ở một số buôn làng, những mái nhà vốn yên ấm bị xáo trộn. Chỉ khi cấp ủy, chính quyền, lực lượng chức năng kiên trì vận động, nhiều người mới dần nhận ra sự thật, tỉnh ngộ và quay về với cuộc sống bình thường.

Xây dựng thế trận lòng dân nơi tà đạo “Hà Mòn” đi qua - Kỳ 1: Nơi bóng tối tà đạo “Hà Mòn” đi qua

E-magazine Xây dựng thế trận lòng dân nơi tà đạo “Hà Mòn” đi qua - Kỳ 1: Nơi bóng tối tà đạo “Hà Mòn” đi qua

(GLO)- Có một thời, ở những ngôi làng Bahnar như Kret Krot (xã Hra), Kuk Kôn, Kuk Đak (xã Đak Pơ), nhịp sống bình yên bỗng chùng xuống. Tà đạo Hà Mòn như một “cơn gió độc” quét qua, để lại phía sau sự im ắng nặng nề, len lỏi vào từng mái nhà, khiến buôn làng trở nên khép kín, u ám.

Thúng chai lên phố

Thúng chai lên phố

Nghề đan thuyền thúng bằng tre (thúng chai) dùng để đi biển đánh bắt hải sản sau hàng trăm năm giờ đang dần mai một. Những ngư dân miền Trung vẫn âm thầm bám nghề bằng tình yêu mưa nắng đời người, và ngày càng nhiều những chiếc thúng chai rời biển về phố làm du lịch.

Những chuyện tình xuyên biên giới ở Ia O

Những chuyện tình xuyên biên giới ở Ia O

(GLO)- Trên vùng biên Ia O (tỉnh Gia Lai), dòng Pô Cô vừa là ranh giới tự nhiên, vừa là nhịp cầu kết nối lương duyên. Từ những lần qua lại thăm thân, dự lễ hội, nhiều mối tình nảy nở, hình thành nên những mái ấm xuyên biên giới bình dị, bền bỉ, góp phần dệt nên diện mạo riêng nơi phên giậu Tổ quốc.

Làng bồng bềnh trên dòng Pô Kô

Làng bồng bềnh trên dòng Pô Kô

Giữa miền biên viễn phía tây Gia Lai, trên dòng Pô Kô hùng vĩ, hàng chục gia đình từ Tây Nam bộ tìm đến lập nghiệp, dựng nên những căn nhà nổi chông chênh giữa sóng nước. Cuộc mưu sinh lặng lẽ thể hiện nghị lực của con người, ý chí bám trụ và khát vọng sống chan hòa cùng sông nước.

Bấp bênh xóm chài vùng biên

Bấp bênh xóm chài vùng biên

(GLO)- Xóm chài trên mặt hồ thủy điện Sê San (làng Tăng, xã Ia O) hiện có 17 hộ với 58 nhân khẩu, đến từ các tỉnh ở miền Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ. Không đất ở, thiếu giấy tờ tùy thân, họ tự dựng nhà bè, bám lấy con nước để mưu sinh.

Bộ đội Biên phòng lan tỏa không khí bầu cử nơi biên giới

Bộ đội Biên phòng lan tỏa không khí ngày hội lớn của toàn dân nơi biên giới

(GLO)- Những ngày cận kề cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026-2031, cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng Ia Mơ (tỉnh Gia Lai) phối hợp với chính quyền, già làng, người uy tín đến từng làng tuyên truyền, vận động bà con sẵn sàng tham gia ngày hội lớn của toàn dân.

Đội SOS Long Hải: Giữ bình yên cho những cung đường

Đội SOS Long Hải: Giữ bình yên cho những cung đường

Khi phố xá đã lên đèn và nhiều gia đình yên giấc, trên những tuyến đường thuộc xã Long Hải (TPHCM) vẫn có những ánh đèn xe lặng lẽ di chuyển. Đó là ánh đèn của Đội SOS Long Hải - nhóm thanh niên tình nguyện đã suốt 7 năm qua hỗ trợ người dân gặp sự cố giao thông trong đêm.

Đêm đập trống dưới ánh trăng rừng

Đêm đập trống dưới ánh trăng rừng

Giữa vùng lõi của Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng, nơi núi đá vôi dựng đứng như những bức tường thành và rừng già nối tiếp đến tận biên Việt - Lào, có một lễ hội mà mỗi nhịp trống vang lên dường như làm nghiêng ngả cả đại ngàn: Lễ hội Đập trống của người Ma Coong.

'Rừng thiêng' giữa đại ngàn

'Rừng thiêng' giữa đại ngàn

Giữa đại ngàn Trường Sơn hùng vĩ, nơi mây trắng quấn quýt những đỉnh núi của vùng cao Đà Nẵng, có một cánh rừng không chỉ xanh bởi lá, mà còn xanh bởi ký ức. Người dân gọi đó là 'rừng bác Năm Công'.

Cán bộ trại giam động viên, chia sẻ với phạm nhân.

Tình người sau cánh cổng trại giam

(GLO)- Từ những câu chuyện rất thật của người trong cuộc, có thể thấy tính nhân văn trong công tác giáo dục, cải tạo phạm nhân tại Trại tạm giam số 1, Công an tỉnh Gia Lai. Đó là nơi cán bộ, chiến sĩ đang kiên trì cảm hóa những người lầm lỗi bằng trách nhiệm và lòng nhân ái.

Vị linh mục hiến kế chống Pháp

Vị linh mục hiến kế chống Pháp

(GLO)- “Chuyện giặc Pháp xâm lăng ngang ngược, xin ra lịnh cho người có đạo giúp nước lập công, ai phản nghịch sẽ giết cả họ. Kẻ có đạo dù có thịt nát xương tan cũng cố báo đền ơn nước, quyết chẳng hai lòng”.

Ấm áp những ngôi nhà tái định cư

Ấm áp những ngôi nhà tái định cư

(GLO)- Về thăm những khu tái định cư vùng thiên tai trên địa bàn tỉnh Gia Lai, chúng tôi cảm nhận được mùa xuân ấm áp đang về cùng với sắc hoa tươi thắm, khung cảnh sản xuất, sinh hoạt nhộn nhịp đang định hình trên vùng đất mới.

Ngôi làng Bahnar bị "bỏ quên" giữa núi rừng.

Ngôi làng Bahnar bị "bỏ quên" giữa núi rừng

(GLO)- Một ngôi làng Bahnar không người ở, bị "bỏ quên" giữa núi rừng Tây Nguyên nhưng vẫn hấp dẫn nhiều du khách ghé thăm nhờ vẻ đẹp nguyên sơ của thiên nhiên và kiến trúc nhà truyền thống. Đó là làng Kon Sơ Lăl cũ (xã Ia Khươl, tỉnh Gia Lai).

null