Tiếp tục chương trình làm việc của kỳ họp thứ 2 Quốc hội khóa XVI, chiều 23-10, Quốc hội tiến hành thảo luận ở tổ về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp và Luật Thuế thu nhập cá nhân.
Ưu đãi thuế phải gắn với nâng cao chất lượng suất ăn
Đại biểu (ĐB) Lê Hoàng Anh cho rằng, chính sách miễn thuế đối với hoạt động cung cấp suất ăn cho cơ sở giáo dục, khám chữa bệnh cần được cân nhắc kỹ về tính phù hợp và hiệu quả, bảo đảm theo tinh thần Kết luận số 18 về duy trì tính trung lập của hệ thống thuế, hạn chế lồng ghép chính sách xã hội vào chính sách thuế.
Đại biểu phân tích: Miễn thuế không đồng nghĩa giá suất ăn sẽ giảm hoặc chất lượng bữa ăn được cải thiện. Một doanh nghiệp có thể cung cấp suất ăn cho nhiều nhóm khách hàng khác nhau, từ học sinh, người bệnh đến công nhân và các đơn vị khác. Nếu không có cơ chế xác định, kiểm soát phần doanh thu được ưu đãi, lợi ích từ chính sách có thể không đến đúng đối tượng.
“Cần làm rõ quy định về kế toán, hóa đơn, chứng từ đối với các trường hợp được miễn thuế, nhất là khi dự thảo mở rộng ngoại lệ đối với một số đối tượng nộp thuế theo tỷ lệ trên doanh thu. Chính sách cần có cơ chế theo dõi, đánh giá hiệu quả thông qua giá suất ăn, khẩu phần và chất lượng thực phẩm” - ĐB Hoàng Anh nêu rõ.
Đại biểu cho rằng, có thể nghiên cứu phương án hỗ trợ trực tiếp từ ngân sách nhà nước, đi kèm cơ chế giám sát chặt chẽ về giá cả, khẩu phần và chất lượng. Cách làm này có thể giúp xác định rõ nguồn lực hỗ trợ và bảo đảm lợi ích đến với người học, người bệnh.
Cùng quan điểm, ĐB Nguyễn Văn Cảnh đề nghị cân nhắc chuyển từ hỗ trợ gián tiếp thông qua ưu đãi thuế sang hỗ trợ trực tiếp theo từng suất ăn, để mức hỗ trợ được thể hiện rõ ràng, minh bạch.
Theo đại biểu, việc công khai giá trị suất ăn và tổ chức lựa chọn nhà cung cấp phù hợp còn có thể tạo thêm cơ hội cạnh tranh, giúp các cơ sở giáo dục có nhiều phương án lựa chọn đơn vị cung cấp, qua đó góp phần nâng cao chất lượng bữa ăn học đường.
Trong khi đó, ĐB Vũ Hồng Quân thống nhất với mục tiêu hỗ trợ người học, người bệnh thông qua chính sách miễn thuế, song đề nghị gắn ưu đãi với các điều kiện cụ thể về tính minh bạch và an toàn thực phẩm.
Từ thực tế tại địa phương, việc lựa chọn nhà cung cấp ở một số nơi chưa thực sự công khai, cạnh tranh. Những đơn vị đầu tư bếp ăn đạt chuẩn, bảo đảm nguồn gốc nguyên liệu và đáp ứng đầy đủ điều kiện kinh doanh có thể gặp bất lợi trước các cơ sở có chi phí tuân thủ thấp hơn.
ĐB Quân đề nghị quy định ngay trong luật 3 điều kiện để được miễn thuế: đơn vị cung cấp phải có hợp đồng với cơ sở giáo dục hoặc cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; doanh thu từ hoạt động cung cấp suất ăn được xác định trên hóa đơn điện tử; đồng thời tuân thủ quy định hiện hành về an toàn thực phẩm tương ứng với quy mô cung cấp. Trường hợp bị xử phạt vi phạm về an toàn thực phẩm thì không được miễn thuế trong kỳ tính thuế đó.
Làm rõ đối tượng, tránh bỏ sót hoặc mở rộng ưu đãi
Liên quan đến phạm vi miễn thuế đối với hoạt động cung cấp suất ăn, ĐB Huỳnh Thị Anh Thảo đề nghị làm rõ trường hợp cơ sở giáo dục, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tổ chức, quản lý việc cung cấp bữa ăn nhưng người học, người bệnh trực tiếp thanh toán.
Theo đại biểu, tại bệnh viện có thể xảy ra trường hợp bệnh viện đặt mua suất ăn rồi thu tiền người bệnh; hoặc người bệnh đăng ký, thanh toán trực tiếp cho đơn vị cung cấp theo phương án do bệnh viện tổ chức. Nếu chỉ căn cứ vào chủ thể đứng tên mua hoặc thanh toán, các hoạt động có cùng mục đích phục vụ người bệnh có thể được áp dụng ưu đãi khác nhau.
Ngược lại, nếu chỉ căn cứ vào địa điểm kinh doanh trong trường học, bệnh viện thì ưu đãi có nguy cơ mở rộng sang hoạt động kinh doanh ăn uống thông thường phục vụ khách bên ngoài.
Vì vậy, ĐB Thảo đề nghị xác định phạm vi ưu đãi theo hoạt động cung cấp suất ăn thuộc phương án do cơ sở giáo dục, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tổ chức, ký kết hoặc quản lý; đồng thời giao Chính phủ quy định cụ thể căn cứ xác định doanh thu được ưu đãi, bảo đảm phân biệt với hoạt động kinh doanh ăn uống thông thường.
ĐB Thảo cũng đề nghị rà soát tính thống nhất giữa các quy định về miễn thuế thu nhập doanh nghiệp. Theo đại biểu, khoản 5 Điều 15 quy định các đối tượng được miễn thuế gồm tổ chức khoa học và công nghệ công lập, cơ sở giáo dục công lập và cơ sở giáo dục tư thục hoạt động không vì lợi nhuận. Tuy nhiên, khoản 5b khi mở rộng chính sách đối với một số đối tượng nộp thuế theo tỷ lệ phần trăm trên doanh thu lại chưa đề cập cơ sở giáo dục tư thục hoạt động không vì lợi nhuận.
Sự khác biệt này cần được làm rõ để tránh trường hợp các cơ sở đáp ứng điều kiện nhưng bị bỏ sót quyền thụ hưởng chỉ vì áp dụng phương pháp tính thuế khác nhau.
Ở góc độ mở rộng chính sách ưu đãi, ĐB Vũ Hồng Quân đề nghị nghiên cứu bổ sung đối tượng ngoài công lập hoạt động không vì lợi nhuận trong lĩnh vực đào tạo, kết nối khoa học, nhằm khuyến khích phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và tăng cường hợp tác quốc tế.
Đại biểu nêu trường hợp Trung tâm Quốc tế Khoa học và Giáo dục liên ngành (ICISE) tại Gia Lai, đơn vị sử dụng nguồn vốn tư nhân và nguồn lực vận động để kết nối các nhà khoa học quốc tế với Việt Nam, tổ chức hội nghị khoa học, trường khoa học và các chương trình đào tạo. Dù có đóng góp cho nghiên cứu và đào tạo, những hoạt động dịch vụ phục vụ khoa học này vẫn khó tiếp cận ưu đãi thuế hiện hành nếu không thuộc phạm vi thu nhập được ưu đãi.
Đại biểu đề xuất xem xét miễn thuế đối với phần thu nhập được để lại đầu tư cho hoạt động đào tạo, nghiên cứu và hợp tác khoa học, với các điều kiện chặt chẽ như hoạt động liên tục từ 5 năm trở lên, có kết quả được cơ quan có thẩm quyền đánh giá, công nhận, không phân phối lợi nhuận và hạch toán riêng các hoạt động kinh doanh khác. Thời hạn hưởng ưu đãi đề xuất là 5 năm, sau đó tổ chức phải được đánh giá lại để xem xét tiếp tục áp dụng.
Thuế đất bỏ hoang cần đủ sức hạn chế đầu cơ
Đối với dự thảo sửa đổi Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp, ĐB Lê Hoàng Anh đề nghị hoàn thiện quy định về thuế đối với đất bỏ hoang, không đưa vào sử dụng hoặc chậm đưa vào sử dụng, bảo đảm tăng chi phí nắm giữ đất và hạn chế tình trạng đầu cơ.
Theo đại biểu, mức thuế suất 0,2% được đề xuất chưa đủ sức làm thay đổi hành vi của nhà đầu tư. Chẳng hạn, với khu đất có giá trị theo bảng giá đất là 1.000 tỷ đồng, số thuế phải nộp ở mức 0,2% là 2 tỷ đồng/năm. Trong khi đó, nếu giá đất tăng 10% mỗi năm, lợi ích từ việc tăng giá có thể lên tới 100 tỷ đồng. Như vậy, số thuế chỉ tương đương 2% khoản lợi ích này.
Đại biểu cũng cho rằng phạm vi áp dụng còn hẹp, có nguy cơ bỏ sót đất ở, đất nền được nhận chuyển nhượng rồi để chờ tăng giá. Trong khi đó, quy định về đất chưa sử dụng tại khoản 6 Điều 7 hiện hành và mức thuế suất dự kiến bổ sung tại khoản 8 có thể chồng chéo nếu chưa xác định rõ trường hợp áp dụng.
Bên cạnh đó, việc đồng thời áp dụng xử phạt hành chính, khoản thu bổ sung theo Luật Đất đai và thuế theo Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp đối với dự án chậm triển khai cần được thiết kế đồng bộ. Dự thảo cũng cần làm rõ cơ quan chịu trách nhiệm xác định nghĩa vụ, thời điểm bắt đầu tính thuế và nguyên tắc khấu trừ để tránh thu trùng.
Để khắc phục những bất cập trên, ĐB Hoàng Anh đề xuất quy định nguyên tắc áp dụng thuế suất lũy tiến theo số năm bỏ hoang, trong khung từ 0,2 - 2%; giao Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức cụ thể phù hợp tình hình thực tế và diễn biến thị trường. Đồng thời, khoản tiền thu bổ sung đã nộp theo Luật Đất đai trong cùng kỳ cần được khấu trừ vào số thuế phải nộp.
Đại biểu cũng đề nghị rà soát, loại bỏ quy định có nguy cơ chồng chéo; xác định căn cứ tính thuế trên cơ sở danh mục đất bỏ hoang do cơ quan có thẩm quyền công khai; giao Chính phủ quy định cụ thể thời điểm, trình tự, thủ tục xác định đất thuộc diện chịu thuế. Đối với đất của cá nhân chưa đưa vào sử dụng, đại biểu đề nghị tiếp tục nghiên cứu, trình phương án vào thời điểm thích hợp do hồ sơ hiện nay chưa cung cấp đủ cơ sở để quy định.
ĐB Huỳnh Thị Anh Thảo đề nghị bổ sung quy định chuyển tiếp khi thay đổi phạm vi tổng hợp diện tích đất ở để tính thuế do sắp xếp đơn vị hành chính. Theo đại biểu, việc thay đổi địa giới cấp tỉnh có thể làm thay đổi phạm vi tổng hợp diện tích đất ở, dù người dân không mua thêm đất. Nếu thiếu hướng dẫn chuyển tiếp, việc hợp nhất dữ liệu có thể dẫn đến cách xác định nghĩa vụ thuế khác nhau giữa các kỳ.
Đại biểu đề nghị làm rõ kỳ tính thuế bắt đầu áp dụng, cách kế thừa thông tin đã kê khai và việc khấu trừ số thuế đã nộp. Trường hợp thay đổi phạm vi tổng hợp khiến nghĩa vụ thuế tăng, cơ quan chức năng cần đánh giá tác động và thông báo rõ cho người dân trước khi thực hiện.