Phấn đấu đảm bảo nguồn thu từ dịch vụ môi trường rừng tăng trưởng ổn định, bình quân 5%/năm

Theo dõi Báo Gia Lai trên Google News
(GLO)- Theo Đề án phát triển giá trị đa dụng của hệ sinh thái rừng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050, phấn đấu nguồn thu từ hoạt động du lịch cộng đồng, du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí tăng 50% so với năm 2020 vào năm 2030 và 100% vào năm 2050.

Phó Thủ tướng Trần Lưu Quang vừa ký Quyết định số 208/QĐ-TTg phê duyệt Đề án phát triển giá trị đa dụng của hệ sinh thái rừng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 (Đề án).

Theo đó, Đề án đặt mục tiêu chung là phát triển giá trị đa dụng của hệ sinh thái rừng nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng bền vững tài nguyên rừng; tạo việc làm, tăng thu nhập, ổn định và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho đồng bào dân tộc thiểu số, người dân miền núi, người làm nghề rừng và người dân sống gần rừng, góp phần phát triển kinh tế-xã hội, bảo tồn tài nguyên thiên nhiên, đa dạng sinh học, bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu; bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa, lịch sử truyền thống, danh lam thắng cảnh và tri thức bản địa của cộng đồng địa phương; góp phần bảo đảm an ninh, quốc phòng.

Ban Quản lý rừng phòng hộ Mang Yang chủ động phối hợp với người dân nhận khoán phát dọn thực bì rừng trồng trong mùa khô. Ảnh: Nguyễn Diệp

Ban Quản lý rừng phòng hộ Mang Yang chủ động phối hợp với người dân nhận khoán phát dọn thực bì rừng trồng trong mùa khô. Ảnh: Nguyễn Diệp

Một trong những mục tiêu cụ thể của Đề án là phát triển bền vững nguồn cung nguyên liệu gỗ thông qua việc tổ chức thâm canh, mở rộng diện tích trồng rừng gỗ lớn để đảm bảo chủ động cung cấp nguyên liệu cho ngành chế biến gỗ; góp phần nâng cao năng suất, giá trị của rừng trồng và giá trị gia tăng của ngành chế biến gỗ. Phấn đấu sản lượng gỗ nguyên liệu khai thác trong nước đáp ứng tối thiểu 80% vào năm 2030 và 100% vào năm 2050 nhu cầu nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến gỗ; 100% gỗ và sản phẩm gỗ có sử dụng nguồn nguyên liệu gỗ hợp pháp, đáp ứng yêu cầu của thị trường xuất khẩu và tiêu dùng trong nước.

Giá trị lâm sản ngoài gỗ, dược liệu được chế biến tăng gấp 1,5 lần so với năm 2020 vào năm 2030 và tăng gấp 2 lần vào năm 2050; giá trị xuất khẩu lâm sản ngoài gỗ, dược liệu được sản xuất dưới tán rừng chiếm tỷ trọng từ 10% đến 15% vào năm 2030 và 25% vào năm 2050 trong tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu lâm sản. Phát triển các hình thức tổ chức sản xuất nông, lâm, ngư kết hợp hiệu quả, bền vững trên cơ sở khai thác tiềm năng, lợi thế của từng vùng, từng địa phương gắn với phát huy có hiệu quả tri thức bản địa nhằm nâng cao giá trị gia tăng từ rừng, tạo ra nhiều sản phẩm và dịch vụ; đến năm 2030 giá trị kinh tế trên một đơn vị diện tích canh tác được gia tăng từ 20% trở lên ngoài giá trị gỗ rừng trồng.

Bên cạnh đó, Đề án cũng đặt mục tiêu phát triển dịch vụ môi trường rừng trên cơ sở cụ thể hóa, mở rộng các các loại dịch vụ môi trường rừng; đồng thời quản lý, sử dụng có hiệu quả nguồn từ dịch vụ môi trường rừng đảm bảo phù hợp với quy định của pháp luật; triển khai hiệu quả dịch vụ hấp thụ và lưu giữ các-bon của rừng; giảm phát thải khí nhà kính từ hạn chế mất rừng và suy thoái rừng, quản lý rừng bền vững, tăng trưởng xanh; phấn đấu đảm bảo nguồn thu từ dịch vụ môi trường rừng tăng trưởng ổn định, bình quân 5%/năm.

Phát triển các hoạt động du lịch cộng đồng, du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí bền vững. Phát huy tiềm năng, lợi thế, khai thác các giá trị về tài nguyên thiên nhiên, truyền thống văn hóa, tri thức bản địa; mở rộng các loại hình du lịch, quan tâm phát triển du lịch cộng đồng, du lịch nông thôn gắn với các sản phẩm du lịch văn hóa, lịch sử và tri thức bản địa của cộng đồng địa phương. Phấn đấu nguồn thu từ hoạt động du lịch cộng đồng, du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí tăng 50% so với năm 2020 vào năm 2030 và 100% vào năm 2050.

Nâng cao hiệu quả công tác bảo tồn thiên nhiên, đa dạng sinh học trong các hệ sinh thái rừng; duy trì ổn định và phát triển diện tích rừng đặc dụng đến năm 2030 tăng từ 10% đến 15% so với năm 2020; xây dựng được Kế hoạch hành động bảo tồn các loài động vật rừng nguy cấp, quý hiếm tại Việt Nam.

Mục tiêu nữa là thu hút lực lượng lao động làm việc trong lĩnh vực lâm nghiệp là người dân tộc thiểu số sống ở khu vực có rừng đến năm 2030 chiếm trên 50%; tỷ lệ lao động trong lĩnh vực lâm nghiệp được đào tạo, tập huấn, hướng dẫn kỹ thuật đạt từ 40% trở lên vào năm 2030 và 70% vào năm 2050. Phấn đấu nâng mức thu nhập bình quân của lao động là người dân tộc thiểu số tham gia các hoạt động sản xuất lâm nghiệp đến năm 2030 tăng gấp 1,5 lần và đến năm 2050 tăng gấp 2 lần so với mức thu nhập tại thời điểm năm 2025.

Để đạt được các mục tiêu trên, Đề án đặt ra các nhiệm vụ: phát triển nguồn nguyên liệu gỗ hợp pháp và nâng cao giá trị cho ngành chế biến gỗ; phát triển lâm sản ngoài gỗ, dược liệu; phát triển các hình thức nông, lâm, ngư kết hợp; phát triển dịch vụ môi trường rừng; phát triển du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí.

Đa dạng hóa, mở rộng nguồn thu từ các loại dịch vụ môi trường rừng

Về phát triển dịch vụ môi trường rừng: Phát triển dịch vụ môi trường rừng, đa dạng hóa và mở rộng nguồn thu từ các loại dịch vụ môi trường rừng phù hợp với quy định của pháp luật, đặc biệt là dịch vụ hấp thụ và lưu giữ các-bon của rừng; giảm phát thải khí nhà kính từ hạn chế mất rừng và suy thoái rừng, quản lý rừng bền vững, tăng trưởng xanh.

Nghiên cứu, thể chế hóa các quy định về áp dụng mức thu tiền dịch vụ môi trường rừng tiệm cận với giá trị thực mà rừng mang lại, phù hợp với thực tiễn phát triển của nền kinh tế, từng bước nâng cao thu nhập, ổn định cuộc sống của người trực tiếp tham gia quản lý bảo vệ và phát triển rừng.

Tăng cường quản lý, hướng dẫn nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn thu từ dịch vụ môi trường rừng để đầu tư cho bảo vệ, phát triển bền vững tài nguyên rừng; đảm bảo chia sẻ công bằng lợi ích với cộng đồng người dân địa phương.

Thác 50 là một thắng cảnh thiên nhiên nổi tiếng nằm trong Khu Bảo tồn thiên nhiên Kon Chư Răng. Ảnh: Phương Vi

Thác 50 là một thắng cảnh thiên nhiên nổi tiếng nằm trong Khu Bảo tồn thiên nhiên Kon Chư Răng. Ảnh: Phương Vi

Hỗ trợ các chủ rừng tự tổ chức các hoạt động du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí

Về phát triển du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí: Hướng dẫn các chủ rừng xây dựng và tổ chức thực hiện Đề án du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí; đánh giá tác động, có các biện pháp kiểm soát chặt chẽ, giảm thiểu những tác động tiêu cực của hoạt động du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí đối với công tác quản lý rừng, bảo tồn thiên nhiên, đa dạng sinh học các hệ sinh thái rừng và phát triển kinh tế-xã hội.

Cạnh đó, nghiên cứu việc thúc đẩy, hỗ trợ các chủ rừng thực hiện phương thức tự tổ chức các hoạt động du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí theo quy định.

Đồng thời, tăng cường hợp tác giữa chủ rừng với cộng đồng địa phương, khuyến khích cộng đồng tham gia vào quá trình lập kế hoạch, quản lý du lịch, cung cấp sản phẩm, dịch vụ du lịch; bảo tồn, phát huy tri thức bản địa và truyền thống văn hóa, đảm bảo chia sẻ lợi ích công bằng đối với cộng đồng địa phương. Ngoài ra, phát triển các mô hình du lịch sinh thái gắn với các loại hình du lịch nông nghiệp, nông thôn, du lịch cộng đồng đối với đồng bào dân tộc, người dân miền núi và người dân sống trong và gần rừng.

Có thể bạn quan tâm

Nâng cao giá trị ngành hàng chanh dây

Gia Lai đầu tư nâng cao giá trị ngành hàng chanh dây

(GLO)- Gia Lai có khoảng 5.500 ha chanh dây, sản lượng khoảng 210 nghìn tấn/năm. Từ quả chanh dây tươi, nhiều doanh nghiệp, hợp tác xã đã tạo ra nhiều sản phẩm như dịch cấp đông, nước ép cô đặc, tinh cốt..., qua đó mở rộng đầu ra, nâng giá trị và giảm áp lực tiêu thụ trong mùa thu hoạch.

2,5 triệu ha rừng keo và nghịch lý bán nguyên liệu giá rẻ

2,5 triệu ha rừng keo và nghịch lý bán nguyên liệu giá rẻ

(GLO)- Việt Nam hiện có khoảng 2,5 triệu ha rừng keo, chiếm phần lớn diện tích rừng keo của thế giới. Thế nhưng khoảng 80% sản lượng gỗ keo vẫn được đưa vào sản xuất dăm gỗ và viên nén, đặt ra bài toán chuyển từ bán nguyên liệu giá trị thấp sang chế biến sâu, tạo giá trị cao hơn.

Hạt dổi rớt giá, người trồng tiến thoái lưỡng nan

Hạt dổi rớt giá, người trồng tiến thoái lưỡng nan

(GLO)- Từng được thu mua với giá hơn 2 triệu đồng/kg, hạt dổi nay chỉ còn khoảng 20-25 ngàn đồng/kg nhưng vẫn khó tìm đầu ra. Tại các xã Sơn Lang, Đak Rong, Krong (tỉnh Gia Lai), nhiều hộ rơi vào cảnh tiến thoái lưỡng nan: giữ cây thì không có thu nhập, chặt bỏ lại tiếc vốn đầu tư và chăm sóc.

Ưu tiên nghiên cứu các giống cây trồng chủ lực

Ưu tiên nghiên cứu các giống cây trồng chủ lực

(GLO)- Bám sát định hướng sản xuất của tỉnh Gia Lai và các địa phương trong khu vực, Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Duyên hải Nam Trung Bộ (phường Quy Nhơn Nam) tập trung chọn tạo, chuyển giao các giống cây trồng có năng suất, chất lượng, khả năng thích ứng tốt.

Gạo hữu cơ, gạo đồ được nới điều kiện xuất khẩu từ tháng 10

Gạo hữu cơ, gạo đồ được nới điều kiện xuất khẩu từ tháng 10

(GLO)- Từ ngày 1-10, Nghị định 365/2026/NĐ-CP của Chính phủ có hiệu lực, tạo cơ chế thông thoáng hơn cho thương nhân xuất khẩu gạo hữu cơ, gạo đồ và gạo bổ sung vi chất dinh dưỡng. Các mặt hàng này được xuất khẩu mà không phải đáp ứng các điều kiện kinh doanh xuất khẩu gạo thông thường.

Thúc đẩy liên kết đa bên trong xây dựng, quản lý và duy trì mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói

Thúc đẩy liên kết đa bên trong xây dựng, quản lý và duy trì mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói

(GLO)- Sáng 25-9, tại phường Pleiku, Trung tâm Khuyến nông quốc gia (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) phối hợp với Sở Nông nghiệp và Môi trường Gia Lai tổ chức Tọa đàm liên kết doanh nghiệp, hợp tác xã và người sản xuất trong xây dựng, quản lý và duy trì mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói.

null