.
.

(GLO)- Cái năm ấy tôi gầy xanh và ho mãi, những cơn ho rạc rài. Gió mùa từ trong núi thổi ra cũng gầy rộc. Mùa đông hanh khô trên non cao, gió đói mùi hoa, đói mùi quả đã đành, giờ đói cả mùi cỏ dại. Sương muối giết dần cỏ bằng những đêm trăng mờ đục như mắt người già.

 

 



Ho thế, ốm nhách thế, tôi vẫn phải leo dốc theo cha hàng ngày lên rẫy. Leo đến tức ngực thì tôi bật ra những câu hỏi: “Trời ăn gì mà xanh thế?”-”Ăn tiếng chim hót”. “Chim ăn gì mà hót?”-”Chim uống nước suối”. “Suối uống gì mà trong thế?”-”Suối uống rừng”… Con hỏi với một bước chân, cha đáp bằng một bước chân, mãi vẫn chưa hết dốc. Đến đấy, cha tôi chỉ tay nói lảng: “Con nhìn kìa, chỗ mới bị sạt vì trận lũ hôm qua ấy là vết thương của rừng, như vết gai cào chân con”.

 

  Minh họa: HUYỀN TRANG
Minh họa: HUYỀN TRANG



Từ hôm ấy, tôi nghĩ núi rừng có da có thịt.

Tôi nhớ, mỗi dịp xuân về, mẹ vẫn thường nhoẻn cười bảo con cháu: “Đất mùa này như đứa con gái phổng phao rồi, trưởng thành rồi, gieo cây sinh nở được rồi”. Rồi mẹ cứ thế tra những hạt bắp giống xuống các hốc. Chẳng phải bàn, mấy bữa sau bắp lên xanh non. Lúa nương, cây bông lục tục mọc lên. Những loài cỏ, cây dại ở đâu cũng ngoi lên, núi rừng như con thú mạnh khỏe với bộ lông rậm rạp. Cứ thế, bốn mùa qua đi như phép thử, dù mưa nắng khắc nghiệt đến chừng nào, núi rừng vẫn chứng minh được cái bản năng phải sinh tồn, mời gọi mùa màng trong cuộc giao hoan kỳ lạ.

Một dạo, người trong xóm núi của tôi xoay ra nhiều nghề lạ. Những quả núi như con chim rừng bị bắt vào lồng hoảng loạn lao đầu vào nan lồng đến toét đầu, chảy máu. Núi lở lói, mưa nắng vài năm vẫn không che phủ được phần xót đau ấy. Hết đá, đến đất. Đi qua nghe phong thanh người ta bàn: “Vục đất lên mà ăn”, người già tưởng nói bóng gió.

Một ngày, rừng cạn dần bóng cây xanh, suối đói, tiếng chim thưa dần, da trời xanh ngằn ngặt gắt gay chứ không còn dịu dàng. Người ta bắt đầu chia đất ra các món để bán; loại rẻ rúng nhất được đổ vào lấp móng nhà, làm đường. Đất “tan đàn xẻ nghé”, những quả đồi mất chân móng dần sụt lở trong mùa mưa bão.

Dị tật ấy sẽ rất khó lành, người xóm tôi biết thế. Những miếng ăn gấp gáp vội vã từ rừng rồi cũng nghẹn tắc ở cổ. Người trẻ trắng mắt rồi đói vàng mắt. Người già lặng thinh như ngày không gió. Không ai bỏ hạt bắp giống, cây dại cũng đi đâu hết cả. Nghe ai đó bảo, ở nơi khác người ta trồng hoa để làm giàu. Bắt đầu chán các loại hoa cảnh cầu kỳ, có người hoài cổ quay về hoang dại, tìm bình an trong thảo mộc…

Đất nhọc nhằn rồi cũng đến lúc mất giá, bị bỏ rơi. Những ngày có mưa, cỏ lại mọc lên dữ dằn, gai góc hơn. Tôi bỏ giày bước trên gai, được cái vết xước rỏ máu mà sao thấy lòng tha thiết thế, rưng rưng thế. Chỗ mấy hòn đá kia là mộ mẹ già. Mộ mẹ được đắp lên da thịt đất đai, như cái nắm thuốc cả đời mẹ đắp cho người trong vùng khỏi bệnh. Người ta thường hỏi thuốc của mẹ làm từ thứ lá gì thì mẹ không nói. Có nói người ta cũng không hiểu, có hiểu cũng có làm được đâu, dám làm đâu? Lành vết đau rồi, cứ thế núi rừng lại có da có thịt, háo hức đón mùa về…

 

 BÙI VIỆT PHƯƠNG

 

.