Chính trị

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

51 năm đại thắng mùa Xuân: Sức mạnh lòng dân và khát vọng hòa bình

Theo dõi Báo Gia Lai trên Google News
(GLO)- Sự kiện ngày 30-4-1975 không chỉ là dấu mốc kết thúc chiến tranh, mà còn là bước ngoặt mở ra kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc - kỷ nguyên độc lập, thống nhất và đi lên chủ nghĩa xã hội.

Thời cơ chiến lược và quyết tâm lịch sử

Bước ngoặt quyết định được xác lập từ nhận định đúng đắn về thời cơ. Nghị quyết của Bộ Chính trị ngày 25-3-1975 khẳng định: “Thời cơ chiến lược mới đã đến, ta có điều kiện hoàn thành sớm quyết tâm giải phóng miền Nam… Phải tập trung nhanh nhất lực lượng, binh khí, kỹ thuật và vật chất giải phóng miền Nam trước mùa mưa”.

Chiến dịch giải phóng Sài Gòn cũng được Bộ Chính trị quyết định mang tên “Chiến dịch Hồ Chí Minh”.

Xe tăng của quân giải phóng húc đổ cổng dinh Độc Lập vào trưa 30-4-1975. Ảnh: TTXVN

Từ đầu tháng 4-1975, cả nước bước vào những ngày sôi động chưa từng có, một ngày bằng hai mươi năm. Cả dân tộc ta ra quân trong mùa xuân lịch sử với tinh thần “đi nhanh đến, đánh nhanh thắng” và với khí thế “thần tốc, bất ngờ, táo bạo, chắc thắng”.

Ngày 9-4-1975, quân ta tiến công Xuân Lộc (Đồng Nai) - một căn cứ phòng thủ trọng yếu của địch bảo vệ Sài Gòn từ phía Đông Bắc. Đến ngày 21-4-1975, Xuân Lộc thất thủ, cánh cửa tiến vào Sài Gòn được mở toang; cùng ngày, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu từ chức, đánh dấu sự sụp đổ về chính trị của chính quyền Sài Gòn.

17 giờ ngày 26-4-1975, quân ta được lệnh nổ súng mở đầu chiến dịch giải phóng Sài Gòn. Cả 5 cánh quân từ các hướng vượt qua tuyến phòng thủ vòng ngoài của địch tiến vào Sài Gòn. Đến ngày 28-4-1975, các trận địa pháo của ta đồng loạt nã đạn vào Tân Sơn Nhất và chiều hôm đó phi công ta dùng 5 máy bay chiến đấu phản lực A37 thu được của địch mở đợt tập kích vào khu vực chứa máy bay của chúng.

Đêm 28, rạng sáng 29-4-1975, tất cả các cánh quân của ta được lệnh đồng loạt tổng công kích vào trung tâm thành phố, đánh chiếm các cơ quan đầu não của địch. Những khẩu hiệu động viên ngắn gọn và thiết thực như “Chậm trễ là có tội với lịch sử”, “Thời cơ là mệnh lệnh” của Bộ Chính trị được nêu lên. Tất cả các đơn vị bừng bừng khí thế tiến công, quyết đánh chiếm các mục tiêu được phân công.

9 giờ 30 phút ngày 30-4-1975, Tổng thống ngụy Dương Văn Minh vừa nhậm chức hôm 28-4-1975 kêu gọi lực lượng quân lực Việt Nam cộng hòa “ngừng bắn để điều đình giao chính quyền” nhằm cứu quân ngụy khỏi sụp đổ.

10 giờ 45 phút ngày 30-4-1975, xe tăng của ta xô ngã cánh cửa và tiến thẳng vào dinh Độc Lập, bắt sống toàn bộ nội các chính quyền Sài Gòn, Tổng thống Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng vô điều kiện. Đúng 11 giờ 30 phút ngày 30-4-1975 lá cờ cách mạng tung bay trên nóc dinh Độc Lập, báo hiệu sự toàn thắng của Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.

Từ thủ đô Hà Nội đến những bản làng hẻo lánh, các hải đảo xa xôi đều vang tiếng reo mừng. Cả dân tộc Việt Nam cùng hát vang khúc ca khải hoàn: “Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng; lời Bác nay đã thành chiến thắng huy hoàng”, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Khoảnh khắc ấy không chỉ đánh dấu sự toàn thắng về quân sự, mà còn là sự hoàn tất của một tiến trình lịch sử kéo dài suốt nhiều thập niên.

Chiến thắng của lòng dân và sức mạnh tổng hợp

Chiến dịch Hồ Chí Minh đánh dấu bước ngoặt lớn trong lịch sử dân tộc, đã hoàn thành trọn vẹn mục tiêu “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào” như Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ra, chấm dứt 21 năm chia cắt đất nước, đưa đến sự thống nhất, độc lập, chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam; đưa dân tộc ta bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập dân tộc và CNXH.

Theo phân tích của Anh hùng LLVT nhân dân Nguyễn Thị Phúc (73 tuổi, hiện sống tại phường Quy Nhơn), yếu tố quyết định trước hết là sự lãnh đạo đúng đắn, sáng tạo của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, với đường lối chính trị và quân sự độc lập, tự chủ.

Nhưng điều làm nên chiều sâu của chiến thắng chính là truyền thống hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, được chuyển hóa thành ý chí kiên cường và tinh thần làm chủ vận mệnh đất nước của toàn dân tộc.

Sức mạnh ấy không tồn tại một cách trừu tượng, mà được cụ thể hóa trong cuộc chiến đấu của toàn dân, với nòng cốt là LLVT ba thứ quân (bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích) trong sự gắn bó máu thịt giữa quân và dân, trong tinh thần “không có gì quý hơn độc lập, tự do”.

Đồng thời, chiến thắng còn là kết quả của sự kết hợp giữa sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, thể hiện ở sự đoàn kết chiến đấu của nhân dân ba nước Đông Dương, cùng sự ủng hộ rộng rãi của các lực lượng tiến bộ và yêu chuộng hòa bình trên thế giới.

Cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 với đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử là “chiến thắng của lòng dân”. Chiến thắng đã khẳng định sự lãnh đạo đúng đắn và sáng tạo của Đảng Cộng sản Việt Nam khi huy động được tối đa sức mạnh của toàn dân” - bà Phúc khẳng định.

Còn với thương binh Lê Văn Thấn (81 tuổi, hiện sống ở phường Quy Nhơn Nam), dù tuổi đã cao nhưng khi nghe chúng tôi nhắc về Chiến dịch Hồ Chí Minh, ông như trẻ lại. Với ông, đại thắng mùa Xuân 1975 là kết quả của sự “nhất tề đứng lên” của quân và dân cả nước - một trạng thái hiếm có trong lịch sử, khi ý chí chính trị, tinh thần và hành động được đồng bộ hóa ở quy mô toàn dân tộc.

“Trong thời khắc chiến thắng lịch sử ấy, người dân trong cả nước ai ai cũng vui mừng khôn xiết vì non sông, đất nước được thu về một mối. Đại thắng mùa xuân 1975 đã đáp lại lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Vì độc lập, vì tự do; đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào; tiến lên chiến sĩ, đồng bào; Bắc - Nam sum họp xuân nào vui hơn”. Chiến thắng chính là nhờ sức mạnh của sự đoàn kết của toàn dân tộc, sức mạnh của lòng dân, trên dưới đồng lòng, triệu người như một.

Đại thắng mùa Xuân 1975 chứng minh rằng một dân tộc nhỏ, với tinh thần đoàn kết và ý chí kiên cường, hoàn toàn có thể chiến thắng kẻ thù hùng mạnh”, ông Thấn nhấn mạnh.

Từ bản anh hùng ca đến động lực phát triển

51 mùa Xuân đã đi qua, đại thắng mùa Xuân 1975 vẫn giữ nguyên giá trị như một biểu tượng của bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam. Đây không chỉ là ký ức lịch sử, mà còn là nguồn lực tinh thần cho hiện tại và tương lai.

Trong bối cảnh đất nước đang bước vào giai đoạn phát triển mới với nhiều thách thức đan xen, bài học từ năm 1975 vẫn còn nguyên tính thời sự khi toàn dân tộc đồng lòng, khi mục tiêu phát triển được xác lập rõ ràng và được chia sẻ rộng rãi, thì những mục tiêu tưởng chừng khó đạt cũng có thể trở thành hiện thực.

Nhân dân Sài Gòn đổ xuống đường ăn mừng chiến thắng 30-4-1975. Ảnh: TTXVN

Chiến thắng 30-4-1975 khép lại một chặng đường lịch sử đầy gian khổ, nhưng đồng thời mở ra một hành trình mới - hành trình xây dựng và phát triển đất nước.

Từ một đất nước bị chia cắt, Việt Nam đã từng bước vươn lên, khẳng định vị thế trên trường quốc tế. Nhưng xét đến cùng, nền tảng sâu xa của mọi thành tựu vẫn là những giá trị đã được hun đúc trong cuộc đấu tranh giành độc lập, đó là tinh thần đoàn kết, ý chí tự cường và khát vọng hòa bình.

Đặt trong dòng chảy đó, kỷ niệm 51 năm Ngày giải phóng miền Nam không chỉ là dịp tri ân quá khứ, mà còn là thời điểm để nhìn lại, suy ngẫm và tái khẳng định những giá trị cốt lõi đã làm nên sức mạnh Việt Nam. Bởi lẽ, lịch sử không chỉ để nhớ. Lịch sử, nếu được nhận thức đúng, sẽ trở thành năng lượng cho hiện tại và định hướng cho tương lai.

Có thể bạn quan tâm