Cuối tuần qua, Hà Nội rộn ràng đón hàng chục ngàn người hâm mộ trong và ngoài nước tới xem concert của nhóm nhạc Hàn Quốc BigBang. Nhu cầu tăng đột biến khiến giá phòng khách sạn, giá vé máy bay và giá nhiều dịch vụ khác cũng tăng mạnh. Ngành du lịch thủ đô ước tính "bỏ túi" từ 650 - 800 tỉ đồng từ sự kiện này.
Tuy nhiên, nếu chỉ nhìn các concert, lễ hội, chương trình nghệ thuật... như một công cụ kích cầu du lịch thì chưa đủ. Chúng còn liên quan trực tiếp đến chiến lược phát triển công nghiệp văn hóa, kinh tế ban đêm, du lịch chất lượng cao và khai thác thế mạnh của từng địa phương.
Ở góc độ du lịch, sức mạnh của các sự kiện văn hóa không chỉ là tăng doanh thu trong một đêm mà còn tạo động lực mới cho du khách. Bởi nếu thông thường, chúng ta đi du lịch vì muốn tham quan danh lam thắng cảnh, nghỉ dưỡng, khám phá ẩm thực hoặc trải nghiệm văn hóa bản địa thì một concert hay một lễ hội có thể kích thích chúng ta đến đâu đó tham gia một trải nghiệm chỉ diễn ra trong một thời điểm nhất định. Như hàng chục ngàn người hâm mộ đến Hà Nội cuối tuần qua chỉ để xem BigBang biểu diễn, chỉ để gặp ngôi sao G-Dragon. Tương tự, một điểm đến có thể đã quen thuộc, đã cũ nhưng khi điểm đến đó tổ chức một concert của nghệ sĩ nổi tiếng, một lễ hội ánh sáng, một chương trình nghệ thuật đặc sắc hay một sự kiện văn hóa có quy mô quốc tế, thì sẽ tạo ra sức hút mới. Đà Nẵng với lễ hội pháo hoa quốc tế là minh chứng. Rất nhiều người quay lại lần 2, lần 3 để xem cuộc so tài hấp dẫn này. Quan trọng hơn, một sự kiện chỉ diễn ra buổi tối nhưng du khách có thể đến trước 1 - 2 ngày, ở lại sau sự kiện thêm một vài ngày để tham quan và nghỉ dưỡng. Đồng nghĩa với thời gian lưu trú kéo dài hơn, chi tiêu cũng nhiều hơn. Đặc biệt, hình ảnh, video và trải nghiệm của người tham dự sự kiện được chia sẻ trên mạng xã hội, giúp quảng bá điểm đến vượt xa mục tiêu ban đầu...
Thực tế, rất nhiều quốc gia đã biến các sự kiện văn hóa, lễ hội... thành một hệ sinh thái nổi tiếng thế giới. Có thể kể đến như Hàn Quốc đưa âm nhạc thành sản phẩm xuất khẩu mang về hàng tỉ USD. Ngày nay, K-Pop, phim ảnh, các chương trình truyền hình đã trở thành cỗ máy tạo doanh thu cho cả hệ sinh thái doanh nghiệp sáng tạo, xuất khẩu nội dung, kinh tế số, thời trang, mỹ phẩm... quảng bá du lịch và văn hóa Hàn Quốc ra toàn cầu. Hay Nhật Bản xây dựng ngành du lịch chất lượng cao từ những trải nghiệm văn hóa bản địa.
Tại Việt Nam, chúng ta cũng coi văn hóa như một tài nguyên để phát triển du lịch nhưng mới dừng ở mức có di sản thì mở tour tham quan, có lễ hội thì tổ chức để thu hút khách, có nghệ thuật truyền thống thì biểu diễn phục vụ... Nếu nhìn ở góc độ công nghiệp văn hóa, các sự kiện này có thể là một chuỗi hoạt động gồm nghệ thuật biểu diễn, thiết kế sân khấu, âm thanh ánh sáng, công nghệ số, ẩm thực, thời trang, thủ công mỹ nghệ, truyền thông và nhiều dịch vụ trải nghiệm khác. Nếu kết hợp với du lịch, sản phẩm ấy có thể tạo nguồn thu cho thương mại, lữ hành, vận tải, logistics, ẩm thực, lưu trú... và mở ra cơ hội cho những sản phẩm văn hóa khác cùng phát triển.
Tại phiên thảo luận tại tổ về dự án luật Phát triển công nghiệp văn hóa cuối tuần qua, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng cũng nhấn mạnh giá trị của sản phẩm công nghiệp văn hóa không chỉ nằm ở sản phẩm ban đầu, mà còn ở khả năng khai thác, phát triển thành các sản phẩm phái sinh, chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ, mở rộng thị trường và hình thành những chuỗi giá trị mới. Chẳng hạn như một sản phẩm điện ảnh, hoạt hình, trò chơi điện tử, từ nội dung số có thể khai thác được trên rất nhiều nền tảng và nhiều thị trường, đồng thời thúc đẩy sự phát triển của các lĩnh vực liên quan như du lịch, thương mại, dịch vụ công nghệ số.
Rõ ràng, một sự kiện nếu được khai thác bài bản có thể tạo ra cả một hệ sinh thái kinh tế, đưa du lịch và văn hóa trở thành các ngành đóng góp lớn cho tăng trưởng kinh tế đất nước.
Theo Nguyên Minh (TNO)