Mai này ai hát sử thi? -Bài 3: Gìn giữ sử thi

Theo dõi Báo Gia Lai trên Google News

Đau đáu trước nguy cơ sử thi Tây Nguyên thất truyền, nhiều người con Tây Nguyên âm thầm bỏ tiền túi ngày đêm xuống làng bản tìm nghệ nhân hát kể sử thi để ghi âm, thuê người dịch và in thành sách để bảo tồn. Họ còn kêu gọi bạn bè ủng hộ tiền để chung tay giúp đỡ những nghệ nhân nghèo khó.


Góp tiền “trả lương” cho nghệ nhân

Một trong những người được đồng bào dân tộc Ba Na hay nhắc tên là ông Nguyễn Quang Tuệ, Trưởng phòng Quản lý di sản văn hóa, Sở VH-TT-DL tỉnh Gia Lai. Ông Tuệ bảo: “Đúng là tôi hay xuống nhà nghệ nhân thật. Có lẽ công việc đã chọn tôi và tôi cũng yêu thích công việc đó. Với tôi, sử thi là viên đá có cuộn ngọc, cuộn vàng bên trong nên rất quý. Sử thi Bahnar được lưu giữ trong đầu các nghệ nhân, mà những người này đều đã già, trong khi lớp trẻ không chịu học, không còn đam mê. Tôi yêu quý sử thi và sẽ rất buồn nếu loại hình này bị mất đi. Nghĩ thế, tôi quyết định tự gom các bài hát kể sử thi đang “ghi” trong đầu các nghệ nhân để tự mình cất giữ, khi có điều kiện sẽ dịch thuật, in sách đưa ra cộng đồng”.

 

Nghệ nhân K’lung - người duy nhất còn giữ trong lòng 20 bài sử thi chưa thu băng.
Nghệ nhân K’lung - người duy nhất còn giữ trong lòng 20 bài sử thi chưa thu băng.

Khoảng 30 năm trước, chàng thanh niên Nguyễn Quang Tuệ mang ba lô rong ruổi đến nhà các nghệ nhân hát kể sử thi, nhờ họ kể lại để ghi âm. “Nhà họ khá xa nhà tôi, thậm chí cách nhau cả 100 km, đường lại khó đi. Hồi đấy phương tiện ghi âm rất khó kiếm, tôi dành dụm lắm mới mua được cái máy cassette. Do mỗi bài sử thi rất dài, các nghệ nhân không thể kể hàng ngày, hàng đêm nên vừa ghi vừa chờ nghệ nhân, vì thế phải mất nhiều ngày mới ghi xong. Những bài sử thi ghi được bằng băng, tôi mang về cất trong thùng xốp cẩn thận. Sau này khi có điều kiện mua máy ghi âm và máy quay chuyên dụng, việc sưu tầm dễ dàng hơn một chút. Ghi âm xong rồi chẳng lẽ để đấy, nếu để lâu cuốn băng ghi sẽ mốc meo, hư, tôi quyết định sẽ dịch và in ra sách các bài hát sử thi đã ghi âm”, ông Tuệ cho hay.

Để in sách sử thi Bahnar, việc đầu tiên ông Tuệ làm là tìm đến những người rành dịch thuật và tuyển chọn ra những nghệ nhân phù hợp. Để dịch hiệu quả hơn, có thời điểm ông đưa người dịch xuống làng cùng nghe nghệ nhân hát. Phải mất thời gian dài, thậm chí cả năm trời mới dịch xong một bản sử thi. Sau đó, mới đem in thành sách. Đến nay, ông Tuệ đã in được 10 cuốn sách sử thi Bahnar, trong đó có cuốn kinh phí do nhà nước hỗ trợ, có cuốn do ông tự bỏ tiền ra in. Riêng cuốn sử thi mới in gần nhất, ông in 500 cuốn với giá 60 triệu đồng, đến nay chỉ mới trả tiền in 15 triệu đồng, số tiền còn lại đang nợ. “Sách in ra không bán được. Tôi biết thế, nhưng công sức sưu tầm, dịch thuật thì phải in để cộng đồng biết đến sử thi”, ông chia sẻ. Đến nay, ông đã ghi âm hàng trăm bài hát kể sử thi và hiện vẫn đang tiếp tục công việc này.

Không chỉ sưu tầm sử thi, ông còn là người khởi xướng chương trình “Chung tay bảo tồn sử thi Bahnar Tây Nguyên”. Chương trình này triển khai được 2 năm với mục đích kêu gọi bạn bè hỗ trợ kinh phí cho các nghệ nhân hát sử thi Bahnar. Cầm danh sách ký nhận tiền cũng như hình ảnh trao nhận quà cho các nghệ nhân, ông Tuệ nói: “Hỗ trợ được một ít nhưng cũng đỡ phần nào cho nghệ nhân. Tôi thấy vui lắm”. Theo ông Tuệ, hành động kêu gọi hỗ trợ xuất phát từ việc thấy các nghệ nhân hát kể sử thi đã già yếu, không lao động nặng nhọc được nữa, cuộc sống khó khăn, lại chẳng có chế độ gì.

Một mình không làm được, nhưng nhiều người tham gia sẽ đỡ hơn, thế là ông lên mạng xã hội kêu gọi mọi người giúp đỡ. Cũng may ý nguyện của ông nhận được sự ủng hộ. Hiện ông đã kêu gọi được hơn 105 triệu đồng hỗ trợ cho việc bảo tồn sử thi Bahnar. Với số tiền này, ông và bạn bè dùng để “trả lương” mỗi nghệ nhân 300.000 đồng/tháng. Tổng cộng có 8 nghệ nhân Ba Na hát kể sử thi ở 2 tỉnh Gia Lai và Kon Tum được nhận tiền hỗ trợ. Đây đều là những người tài giỏi, trên 65 tuổi, có hoàn cảnh khó khăn và chưa được hưởng một chế độ chính sách nào.

Học hát sử thi từ bé

Tiếp tục hành trình đi tìm những người giữ gìn kho báu sử thi M’Nông (còn gọi Ot N’drong), chúng tôi đến xã Đak N’drung (huyện Đak Song, tỉnh Đak Nông) để gặp chị Thị Mai (42 tuổi), con gái của nhà M’Nông học Điểu Kâu. Hiện chị là người duy nhất vừa biết hát, vừa biết dịch Ot Ndrong ra tiếng Việt. Chị đang tiếp tục hoàn thành công việc còn dang dở của bố mình để lại và ngày đêm mong ước thành lập trường dạy hát Ot Ndrong cho lớp thanh niên M’Nông.

Căn nhà truyền thống của người M’Nông mà vợ chồng chị Điểu Thị Mai và 5 đứa con sinh sống là căn nhà xây bốn gian, nhờ công sức lao động cả đời của nghệ nhân Điểu Kâu. Trong ngôi nhà này, mỗi một căn phòng, mỗi bức tường, mỗi góc làm việc đều gợi ra bóng dáng của nghệ nhân Điểu Kâu. Chị Điểu Thị Mai là con gái duy nhất của cố nghệ nhân Điểu Kâu và cũng là một trong những học viên xuất sắc nhất của lớp học sử thi M’Nông do nghệ nhân Điểu Kâu truyền dạy năm 1993. Chị Mai nhớ lại: “Hồi ấy tôi mới học lớp 6, bố không cho học vì tuổi còn nhỏ nhưng tôi cứ nằng nặc xin học, thế là cuối cùng bố tôi cũng chấp thuận. Lớp có 15 học trò, nhưng chỉ có mình tôi dần nghe được và hiểu được sử thi M’Nông. Từ đó, bố kèm tôi liên tục 3 năm, bố tôi đọc sử thi bằng tiếng M’Nông còn tôi thì viết ra, nhưng lúc đó tôi chưa biết dịch sang tiếng Việt”.

Bây giờ chị Mai không chỉ nghe và viết sử thi bằng tiếng M’Nông mà còn có thể dịch ra tiếng Việt thành thạo. Đối với chị Mai, Ot Ndrong là niềm đam mê vô tận mà chị được thừa hưởng từ cha. Chị đã nghe sử thi rất nhiều từ cha mẹ và cả từ bác Điểu K’lứt và chú Điểu K’lung - hai nghệ nhân thuộc Ot Ndrong nhiều nhất ở làng. Từ năm 2005 đến nay, chị Mai đã nghe băng sử thi được thu từ chú Điểu K’lung và viết ra văn bản bằng tiếng M’Nông 3 tác phẩm: Tiăng bắt những kẻ lấy trộm ché quý, Lấy hồn người chết đi, Sung trang đi đầu thai. Bây giờ, chị Mai trở thành người duy nhất và đầu tiên thuộc lớp trẻ đồng bào M’Nông có khả năng nghe, hát, biên soạn và biên dịch Ot Ndrong.

 

Ông Nguyễn Quang Tuệ trò chuyện với nghệ nhân hát sử thi Bahnar.
Ông Nguyễn Quang Tuệ trò chuyện với nghệ nhân hát sử thi Bahnar.

Khát khao truyền dạy sử thi

Trong căn phòng cố nghệ nhân Điểu Kâu từng làm việc, những tư liệu cả cuộc đời ông sưu tầm, biên soạn và biên dịch được để ngăn nắp, trang trọng. Chị Mai mang cho tôi xem những công trình cuối cùng của bố chị, mà hầu hết trong đó đều đang dưới dạng bản thảo. Vừa vuốt lại những mép giấy quăn, chị Mai vừa rưng rưng: “Đây là tất cả những gì mà bố muốn để lại cho con cháu!”. Những công trình tổng kết cả đời làm việc, nghiên cứu của nghệ nhân Điểu Kâu: Từ điển M’Nông - Việt; Kho tàng Tục ngữ - ca dao M’Nông; Dân ca M’Nông; Gia phả M’Nông. Chị Mai trăn trở: “Trước khi bố tôi mất, ông còn làm dang dở tác phẩm sưu tập tục ngữ, ca dao, dân ca, gia phả của người M’Nông đã và đang sinh sống từ Bình Phước đến Đak Lak, Đak Nông. Đây là những tác phẩm mà lúc sinh thời bố tôi phải bỏ nhiều công sức, lặn lội đi khắp các buôn làng mà người M’Nông sinh sống để sưu tầm. Bố tôi cũng đang làm dang dở 2 tác phẩm sử thi M’Nông và 50 tác phẩm sử thi M’Nông chưa được ghi băng để biên soạn và biên dịch sang tiếng Việt”.

Trong quá trình nghiên cứu, sưu tầm của cố nghệ nhân Điểu Kâu về Ot Ndrong, có 120 sử thi đã được thu băng và 40 bài sử thi được biên soạn ra tiếng M’Nông, sau đó biên dịch ra tiếng Việt. Chị Mai tâm sự: “Trách nhiệm của tôi phải tiếp tục biên soạn và biên dịch 80 bài sử thi còn lại. Đáng lo nhất còn 20 bài sử thi chưa thu băng của chú K’lung thuộc nằm lòng, nhưng bây giờ mắt chú mờ, sức khỏe bắt đầu yếu, nếu như không ghi băng sớm thì nguy cơ sẽ mất những bài sử thi này khi chú K’lung qua đời. Bố tôi đã từng nói, số người hát kể sử thi được ngày càng ít đi. Nếu không nhanh chân thì lớp người M’nông sau này sẽ mất hết của để dành quý báu của cha ông”. Chúng tôi hỏi, vì sao chị không tiếp tục thu băng? Chị cho biết: “Năm 1995, Viện Nghiên cứu văn hóa có yêu cầu chú K’lung hát kể Ot Ndrong và thu băng với giá 150.000 đồng/băng, một bài sử thi phải sử dụng ít nhất từ 5 băng đến 25 băng. Bây giờ, điều kiện cuộc sống của tôi bận rộn con nhỏ, phải lên nương rẫy kiếm lúa, kiếm thóc nuôi con và cũng không có tiền để nhờ chú K’lung hát thêm được nữa…”.

Tạm biệt chúng tôi, chị Mai mong ước: “Lớp trẻ M’Nông bây giờ không biết hát, không biết nghe Ot Ndrong, nhưng tôi biết, nếu như có lớp dạy hát kể Ot Ndrong thì thanh niên đồng bào M’Nông sẽ tham gia học rất đông. Chỉ mong Nhà nước quan tâm, mở trường dạy hát sử thi và tạo điều kiện cho tôi thu băng 20 bài Ot Ndrong còn lại từ chú K’lung để tránh nguy cơ mất dần sử thi M’Nông và để tôi hoàn thành tâm nguyện của bố”.

Theo sggp

Có thể bạn quan tâm

'Sói biển' Lý Sơn và hành trình nối biển ra Hoàng Sa

'Sói biển' Lý Sơn và hành trình nối biển ra Hoàng Sa

Ở đặc khu Lý Sơn (Quảng Ngãi), lão ngư Dương Minh Thạnh được nhiều ngư dân gọi là “lão ngư Hoàng Sa” bởi có công “nối biển” Lý Sơn ra quần đảo Hoàng Sa. Ông còn được mệnh danh là “sói biển” Lý Sơn, bởi sức vươn khơi dẻo dai, từng 5 lần thoát chết thần kỳ giữa bão biển.

Xây dựng thế trận lòng dân nơi tà đạo "Hà Mòn" đi qua - Kỳ 3: Gieo lại niềm tin trên đất cũ

E-magazine Xây dựng thế trận lòng dân nơi tà đạo "Hà Mòn" đi qua - Kỳ 3: Gieo lại niềm tin trên đất cũ

(GLO)- Khi tà đạo “Hà Mòn” tan biến, trên những buôn làng ở xã Hra, xã Đak Pơ, niềm tin làm giàu đang được gieo lại từ chính mảnh đất cũ. Nhờ sự vào cuộc của cấp ủy, chính quyền, lực lượng chức năng cùng ý chí vươn lên của người dân, những vùng đất này đang chuyển mình mạnh mẽ. 

Xây thế trận lòng dân từ sâu rễ bền gốc nơi tà đạo Hà Mòn đi qua

E-magazine Xây dựng thế trận lòng dân nơi tà đạo Hà Mòn đi qua - Kỳ 2: Tỉnh ngộ sau chuỗi ngày tối tăm

(GLO)- Phía sau những lời hứa hẹn mơ hồ về một cuộc sống sung túc không cần lao động. Ở một số buôn làng, những mái nhà vốn yên ấm bị xáo trộn. Chỉ khi cấp ủy, chính quyền, lực lượng chức năng kiên trì vận động, nhiều người mới dần nhận ra sự thật, tỉnh ngộ và quay về với cuộc sống bình thường.

Xây dựng thế trận lòng dân nơi tà đạo “Hà Mòn” đi qua - Kỳ 1: Nơi bóng tối tà đạo “Hà Mòn” đi qua

E-magazine Xây dựng thế trận lòng dân nơi tà đạo “Hà Mòn” đi qua - Kỳ 1: Nơi bóng tối tà đạo “Hà Mòn” đi qua

(GLO)- Có một thời, ở những ngôi làng Bahnar như Kret Krot (xã Hra), Kuk Kôn, Kuk Đak (xã Đak Pơ), nhịp sống bình yên bỗng chùng xuống. Tà đạo Hà Mòn như một “cơn gió độc” quét qua, để lại phía sau sự im ắng nặng nề, len lỏi vào từng mái nhà, khiến buôn làng trở nên khép kín, u ám.

Thúng chai lên phố

Thúng chai lên phố

Nghề đan thuyền thúng bằng tre (thúng chai) dùng để đi biển đánh bắt hải sản sau hàng trăm năm giờ đang dần mai một. Những ngư dân miền Trung vẫn âm thầm bám nghề bằng tình yêu mưa nắng đời người, và ngày càng nhiều những chiếc thúng chai rời biển về phố làm du lịch.

Những chuyện tình xuyên biên giới ở Ia O

Những chuyện tình xuyên biên giới ở Ia O

(GLO)- Trên vùng biên Ia O (tỉnh Gia Lai), dòng Pô Cô vừa là ranh giới tự nhiên, vừa là nhịp cầu kết nối lương duyên. Từ những lần qua lại thăm thân, dự lễ hội, nhiều mối tình nảy nở, hình thành nên những mái ấm xuyên biên giới bình dị, bền bỉ, góp phần dệt nên diện mạo riêng nơi phên giậu Tổ quốc.

Làng bồng bềnh trên dòng Pô Kô

Làng bồng bềnh trên dòng Pô Kô

Giữa miền biên viễn phía tây Gia Lai, trên dòng Pô Kô hùng vĩ, hàng chục gia đình từ Tây Nam bộ tìm đến lập nghiệp, dựng nên những căn nhà nổi chông chênh giữa sóng nước. Cuộc mưu sinh lặng lẽ thể hiện nghị lực của con người, ý chí bám trụ và khát vọng sống chan hòa cùng sông nước.

Bám rừng giữ “báu vật” giáng hương

Bám rừng giữ “báu vật” giáng hương

(GLO)- Ẩn giữa rừng sâu xã Krong (tỉnh Gia Lai), những căn lán nhỏ được dựng ngay dưới gốc giáng hương cổ thụ. Đó là nơi lực lượng bảo vệ rừng ăn ngủ, thay nhau canh giữ từng cây hương quý - những “báu vật” của đại ngàn.

Bộ đội Biên phòng lan tỏa không khí bầu cử nơi biên giới

Bộ đội Biên phòng lan tỏa không khí ngày hội lớn của toàn dân nơi biên giới

(GLO)- Những ngày cận kề cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026-2031, cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng Ia Mơ (tỉnh Gia Lai) phối hợp với chính quyền, già làng, người uy tín đến từng làng tuyên truyền, vận động bà con sẵn sàng tham gia ngày hội lớn của toàn dân.

Đội SOS Long Hải: Giữ bình yên cho những cung đường

Đội SOS Long Hải: Giữ bình yên cho những cung đường

Khi phố xá đã lên đèn và nhiều gia đình yên giấc, trên những tuyến đường thuộc xã Long Hải (TPHCM) vẫn có những ánh đèn xe lặng lẽ di chuyển. Đó là ánh đèn của Đội SOS Long Hải - nhóm thanh niên tình nguyện đã suốt 7 năm qua hỗ trợ người dân gặp sự cố giao thông trong đêm.

Đêm đập trống dưới ánh trăng rừng

Đêm đập trống dưới ánh trăng rừng

Giữa vùng lõi của Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng, nơi núi đá vôi dựng đứng như những bức tường thành và rừng già nối tiếp đến tận biên Việt - Lào, có một lễ hội mà mỗi nhịp trống vang lên dường như làm nghiêng ngả cả đại ngàn: Lễ hội Đập trống của người Ma Coong.

'Rừng thiêng' giữa đại ngàn

'Rừng thiêng' giữa đại ngàn

Giữa đại ngàn Trường Sơn hùng vĩ, nơi mây trắng quấn quýt những đỉnh núi của vùng cao Đà Nẵng, có một cánh rừng không chỉ xanh bởi lá, mà còn xanh bởi ký ức. Người dân gọi đó là 'rừng bác Năm Công'.

Cán bộ trại giam động viên, chia sẻ với phạm nhân.

Tình người sau cánh cổng trại giam

(GLO)- Từ những câu chuyện rất thật của người trong cuộc, có thể thấy tính nhân văn trong công tác giáo dục, cải tạo phạm nhân tại Trại tạm giam số 1, Công an tỉnh Gia Lai. Đó là nơi cán bộ, chiến sĩ đang kiên trì cảm hóa những người lầm lỗi bằng trách nhiệm và lòng nhân ái.

“Thần y trị điểu”

“Thần y trị điểu” ở An Khê

(GLO)- Hàng chục năm qua, căn nhà của anh Hoàng Huy (SN 1992, ở tổ 1, phường An Khê, tỉnh Gia Lai) luôn ríu rít tiếng chim. Ở đó, anh Huy âm thầm cứu chữa cho hàng trăm chú chào mào mắc bệnh từ khắp nơi gửi về.

Ấm áp những ngôi nhà tái định cư

Ấm áp những ngôi nhà tái định cư

(GLO)- Về thăm những khu tái định cư vùng thiên tai trên địa bàn tỉnh Gia Lai, chúng tôi cảm nhận được mùa xuân ấm áp đang về cùng với sắc hoa tươi thắm, khung cảnh sản xuất, sinh hoạt nhộn nhịp đang định hình trên vùng đất mới.

null