Chuyển đổi số ở Gia Lai vì thế đã thành động lực, khơi dậy tiềm năng, lợi thế và khát vọng vươn lên, hướng tới phát triển nhanh, bền vững trong kỷ nguyên số.
Chuyển đổi phương thức vận hành
Quán triệt sâu sắc quan điểm của Đảng về vai trò của khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo (KH-CN và ĐMST), Tỉnh ủy, UBND tỉnh xác định chuyển đổi số (CĐS) là nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt trong phát triển KT-XH.
Ban Chỉ đạo về phát triển KH-CN, ĐMST và CĐS tỉnh được thành lập, do Bí thư Tỉnh ủy làm Trưởng Ban, bảo đảm cơ chế điều hành tập trung, thống nhất từ tỉnh đến cơ sở. Việc hoàn thành 16/16 nhiệm vụ giai đoạn cấp bách và 25/25 nhiệm vụ giai đoạn đột phá đã tạo nền tảng quan trọng để hệ thống chính quyền sau sắp xếp, sáp nhập vận hành thông suốt.
Trong cải cách hành chính, CĐS không dừng ở việc số hóa thủ tục mà hướng tới thay đổi căn bản phương thức vận hành của bộ máy. Đến nay, 100% thủ tục hành chính đã được cung cấp trực tuyến, trong đó hơn 1.000 dịch vụ được thực hiện toàn trình. Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính được tích hợp với Cổng Dịch vụ công quốc gia, giúp người dân, DN thực hiện thủ tục thuận tiện trên một nền tảng thống nhất.
Một điểm nhấn đáng chú ý là việc triển khai giải quyết nhiều thủ tục hành chính không phụ thuộc địa giới. Người dân có thể nộp hồ sơ trực tuyến ở bất kỳ đâu, không phụ thuộc nơi cư trú. Cùng với đó, tỉnh cắt giảm và rút ngắn thời gian giải quyết cho hơn 1.400 thủ tục hành chính, thay thế nhiều loại giấy tờ bằng dữ liệu điện tử, đồng thời kết nối, chia sẻ giữa các cơ quan.
Hạ tầng số tiếp tục được đầu tư đồng bộ. Toàn tỉnh hiện có hơn 8.500 trạm thu phát sóng, vùng phủ viễn thông mở rộng đến hầu hết các thôn, làng; mạng 5G được triển khai tại hơn 200 vị trí trọng điểm. Trung tâm tích hợp dữ liệu của tỉnh vận hành ổn định, bảo đảm an toàn thông tin và khả năng xử lý dữ liệu tập trung. Hệ thống hội nghị truyền hình trực tuyến kết nối thông suốt từ tỉnh đến xã, phường; văn bản điện tử được ký số và liên thông với các bộ, ngành Trung ương.
Gia Lai là một trong những địa phương chủ động ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong hoạt động của cơ quan nhà nước. Trợ lý ảo hỗ trợ tra cứu thông tin, giải quyết thủ tục hành chính; các sở, ngành và xã, phường được cấp tài khoản ChatGPT, nhờ đó hiệu quả công việc cao hơn hẳn. Chữ ký số công cộng được triển khai đồng bộ; kho dữ liệu dùng chung từng bước được hình thành, tăng cường kết nối với cơ sở dữ liệu quốc gia và bộ, ngành.
Xác định con người là yếu tố quyết định, tỉnh chú trọng phát triển nguồn nhân lực số, nhất là trong các lĩnh vực công nghệ mũi nhọn. Hơn 800 sinh viên các ngành về AI, thiết kế vi mạch, an toàn và an ninh mạng đang được Trường ĐH Quy Nhơn đào tạo, tạo nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ chiến lược phát triển dài hạn.
Động lực phát triển mới
Kinh tế số của tỉnh ghi nhận bước chuyển rõ nét, đặc biệt trong thu hút đầu tư vào các lĩnh vực mũi nhọn như AI, công nghệ thông tin và công nghiệp bán dẫn. Nổi bật là các dự án mang tính “đầu tàu” dẫn dắt như: Trung tâm Trí tuệ nhân tạo - Đô thị phụ trợ Long Vân của Tập đoàn FPT và Khu Công nghệ thông tin tập trung 65 ha tại phường Quy Nhơn Bắc, được kỳ vọng trở thành hạt nhân hình thành hệ sinh thái công nghệ của khu vực miền Trung - Tây Nguyên.
Cùng với đó, tỉnh đồng thời đẩy mạnh xúc tiến đầu tư, mở rộng hợp tác quốc tế thông qua các hoạt động tại Mỹ, Canada và UAE, từng bước nâng cao vị thế trong chuỗi giá trị công nghệ.
Trong cộng đồng DN, CĐS được triển khai theo hướng gần dân, dễ tiếp cận. Mô hình “Chợ số - Nông thôn số” được triển khai hiệu quả, đặc biệt giải pháp 4T (Tiểu thương - Thương mại điện tử - Thanh toán không dùng tiền mặt - Tiết kiệm số) giúp tiểu thương tiếp cận thanh toán không dùng tiền mặt, mã QR, ví điện tử và từng bước tham gia môi trường kinh doanh số, góp phần thúc đẩy kinh tế địa phương phát triển bền vững.
Thực hiện phương châm “lấy người dân làm trung tâm”, tỉnh chú trọng phát triển xã hội số gắn với nâng cao kỹ năng và chất lượng sống của người dân. Phong trào “Bình dân học vụ số” được triển khai rộng khắp, giúp người dân, đặc biệt ở nông thôn, tiếp cận và sử dụng dịch vụ công trực tuyến, thanh toán điện tử, định danh số. Các lớp “Bình dân AI vụ” giúp học sinh, sinh viên làm quen với AI, góp phần hình thành tư duy công nghệ, sáng tạo trong môi trường số.
Các Tổ công nghệ số cộng đồng được duy trì tại hầu hết xã, phường, đóng vai trò cầu nối trực tiếp, hỗ trợ người dân cài đặt, sử dụng và khai thác hiệu quả các dịch vụ số thiết yếu. Nhờ vậy, khoảng cách số giữa các khu vực từng bước được thu hẹp.
Trong y tế và giáo dục, CĐS tạo chuyển biến rõ nét khi 100% cơ sở khám, chữa bệnh triển khai bệnh án điện tử, kiosk y tế thông minh; giáo dục phổ thông từng bước áp dụng học bạ số. Hệ thống định danh điện tử được mở rộng, người dân ngày càng quen với việc sử dụng CCCD gắn chip và VNeID trong các giao dịch hành chính, tài chính.
Có thể khẳng định, CĐS tại Gia Lai đã đi vào chiều sâu, hình thành nền tảng đồng bộ từ thể chế, hạ tầng đến nguồn nhân lực. Trong không gian phát triển mới, nơi rừng và biển hòa ca, truyền thống và công nghệ song hành, cùng với quyết tâm chính trị cao và sự đồng thuận của nhân dân, CĐS trở thành động lực, khơi dậy tiềm năng, lợi thế và khát vọng vươn lên, hướng tới phát triển nhanh, bền vững trong kỷ nguyên số.