Đầu năm 2026, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đã xác lập tầm nhìn chiến lược đưa Việt Nam tiến mạnh trong kỷ nguyên mới, hướng tới mục tiêu trở thành nước phát triển, thu nhập cao, hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội vào giữa thế kỷ XXI.
Trong dòng chảy tư tưởng ấy, nhìn lại lịch sử, chúng ta càng thấm thía giá trị bền vững của Đại hội đại biểu lần thứ II của Đảng - nơi ngọn đuốc tư tưởng của Đảng được thắp sáng giữa khói lửa kháng chiến và soi rọi con đường cách mạng Việt Nam hôm nay.
Đại hội II của Đảng - đại hội đặc biệt
Từ ngày 11 - 19/2/1951, tại xã Vinh Quang, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang, Đại hội Đại biểu lần thứ II của Đảng đã diễn ra trong bối cảnh cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bước vào giai đoạn quyết liệt. Đây là đại hội đầu tiên được tổ chức trong nước, và cũng là duy nhất cho đến nay diễn ra ngoài Thủ đô Hà Nội.
Với sự tham dự của 158 đại biểu chính thức đại diện cho hơn 760.000 đảng viên, Đại hội II đã trở thành dấu mốc lịch sử quan trọng, khẳng định bản lĩnh và trí tuệ của Đảng trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam.
Đại hội II đã quyết định đưa Đảng ra hoạt động công khai với tên gọi Đảng Lao động Việt Nam. Đồng thời, thông qua các văn kiện có giá trị lý luận và thực tiễn to lớn: Báo cáo Chính trị, Báo cáo “Bàn về cách mạng Việt Nam”, Báo cáo về Tổ chức và Điều lệ Đảng và một số báo cáo quan trọng khác. Những văn kiện này đã chứa đựng các quyết sách quan trọng, không chỉ đáp ứng yêu cầu cấp bách của kháng chiến, mà còn đặt nền tảng cho tiến trình cách mạng Việt Nam trong nửa sau thế kỷ XX.
Khẩu hiệu “Đoàn kết, nhất trí, giành độc lập cho Tổ quốc, dân chủ cho nhân dân và hòa bình cho thế giới” vang lên từ Đại hội đã trở thành phương châm hành động, cổ vũ toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta vượt qua muôn vàn gian khổ để đi đến thắng lợi cuối cùng.
Đại hội II cũng khẳng định vai trò lãnh đạo duy nhất của Đảng đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc; đồng thời mở rộng quan hệ quốc tế với các đảng cộng sản anh em, thể hiện tầm nhìn chiến lược của cách mạng Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa.
Giá trị soi sáng hôm nay
Đại hội II đã diễn ra cách đây đã 75 năm, nhưng hôm nay ôn lại chúng ta vẫn thấm thía giá trị lịch sử của sự kiện trọng đại này. Đại hội II không chỉ là bước ngoặt đưa kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn, mà còn là minh chứng cho trí tuệ, bản lĩnh và sự sáng suốt của Đảng trong việc hoạch định đường lối cách mạng.
Từ mạch nguồn Vinh Quang - Chiêm Hóa, niềm tin cách mạng đã lan tỏa, hun đúc nên sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, để đưa đất nước đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.
Trong bối cảnh hiện nay, khi đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với nhiều thời cơ và thách thức, việc ôn lại bài học từ Đại hội II càng có ý nghĩa sâu sắc; đặc biệt là 3 bài học lớn vẫn còn nguyên giá trị.
Thứ nhất: Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
Tinh thần này được Đại hội XIV tiếp tục khẳng định mạnh mẽ trong mục tiêu xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với định hướng xã hội chủ nghĩa.
Đại hội II đã khẳng định con đường cách mạng Việt Nam là giành độc lập dân tộc tiến lên chủ nghĩa xã hội. Bài học này vẫn nguyên giá trị trong thời kỳ hội nhập quốc tế hiện nay. Trong khi thế giới biến động nhanh chóng, với cạnh tranh chiến lược, xung đột cục bộ và những thách thức toàn cầu, kiên định mục tiêu chiến lược giúp đất nước giữ vững định hướng, không bị cuốn theo những trào lưu nhất thời.
Thứ hai: Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân.
Phương châm hành động của Đại hội XIV: “Đoàn kết - Dân chủ - Kỷ cương - Đột phá - Phát triển” chính là sự kế thừa trực tiếp tinh thần “Đoàn kết, nhất trí” từ Đại hội II.
Trong giai đoạn hiện nay, khi đất nước bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và chuyển đổi số, đại đoàn kết dân tộc càng có ý nghĩa quyết định. Sự đồng thuận xã hội, sự gắn bó giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân là nền tảng để vượt qua khó khăn, tận dụng thời cơ phát triển.
Thứ ba: Kết hợp nhuần nhuyễn giữa lý luận và thực tiễn.
Yêu cầu nâng cao năng lực nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn được Đại hội XIV nhấn mạnh chính là sự tiếp nối bài học lớn mà Đại hội II đã để lại.
Đại hội II đã để lại bài học quý báu về việc vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn cách mạng Việt Nam. Ngày nay, trong bối cảnh toàn cầu hóa và cách mạng công nghiệp lần thứ tư, việc kết hợp lý luận với thực tiễn càng trở nên cấp thiết.
Đầu năm 2026, Đại hội XIV của Đảng diễn ra tại Hà Nội đã tổng kết 40 năm đổi mới, đồng thời xác định những định hướng lớn về xây dựng Đảng, phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ Tổ quốc và hội nhập quốc tế.
Nếu như Đại hội II đặt nền móng cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, thì Đại hội XIV mở ra tầm nhìn chiến lược cho sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước trong thời kỳ mới. Cả hai đại hội đều chung một tinh thần: Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, đồng thời sáng tạo trong việc vận dụng lý luận vào thực tiễn.
* * *
Từ Tuyên Quang năm 1951 đến Hà Nội năm 2026 là hành trình 75 năm tiếp nối một ngọn lửa tư tưởng. Đại hội II đã thắp lên ngọn đuốc soi đường cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, Đại hội XIV tiếp nhận ánh sáng ấy để dẫn dắt dân tộc bước vào kỷ nguyên phát triển mới.
Những giá trị cốt lõi được xác lập từ Đại hội II - kiên định mục tiêu, phát huy đoàn kết, gắn lý luận với thực tiễn vẫn hiện hữu sinh động trong tầm nhìn chiến lược của Đại hội XIV. Đó là minh chứng hùng hồn cho sức sống bền vững của đường lối cách mạng Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử.