.

(GLO)- H’Mir chưa bao giờ ngược tìm về dòng nước quê mình. Nhưng Mir nghĩ nó chảy ra từ lòng đất ở một nơi xa, chỗ cao, trên cao nguyên Đak Lak quê nhà này. Mir tin dòng nước là thiêng. Nếu không thiêng thì làm sao chỉ ở chỗ này, bao giờ cũng vậy, suốt nửa giờ trước khi có mưa là con suối gào lên. Tiếng ầm ào của dòng suối sau nhà kêu lên một thứ âm thanh hoang dại, như báo động, mà đôi khi cảm giác cứ như đòi nợ, rất khó tả.

Âm thanh dội lên mảnh rừng lá rộng còn lại bên suối, dội cả vào nhà của Mir. Ngày xưa, bố mẹ, trước nữa là ông bà và cả làng cứ mùa mưa là tổ chức cúng con nước, cúng Thần Nước. Cúng để tỏ lòng tôn kính thiên nhiên và lòng biết ơn nguồn nước đổ về cho dân làng có cái uống, cái để dẫn vào cho lúa trong ruộng lên xanh và các thứ cây trồng trên vườn nữa.

 

Tác giả bên giọt nước Ea Tam (buôn Ko Tam, TP. Buôn Ma Thuột).  Ảnh: N.H.T
Tác giả bên giọt nước Ea Tam (buôn Ko Tam, TP. Buôn Ma Thuột). Ảnh: N.H.T

Mir, mà không riêng nàng, cả buôn Cư Dluê của người Ê Đê bản địa ở xã Hòa Xuân (TP. Buôn Ma Thuột) đều cho là mình hạnh phúc khi sống bao đời bên đoạn suối này. Không chỉ đẹp, lành, mát, mà nó còn là con suối ruột thịt, ân tình. Đến mức, đến ngày nay con suối có những mùa hôi thối, nước đen ngòm từ trên kia đưa về cùng bao nhiêu rác rưởi, cái nguồn nước mà không còn ai ở Cư Dluê dám uống hay tắm nữa, thế mà Mir vẫn bảo nó vẫn là nguồn nước thân yêu. “Thì vẫn còn tưới cây, đổ ruộng được mà!”. Mir hái những trái cà đắng để nấu bữa tối cho gia đình, cười hồn hậu: Không có nguồn nước từ con suối Ea Tam, lấy đâu ra những trái cà này. Tâm hồn nàng trong quá, đẹp quá, H’Mir ơi !

*
Cầm cái xà gạt phát những tàng cây dại um tùm nơi giọt nước, nàng H’Nhul nói: “Để bà con ra lấy nước uống khỏi bị con rắn cắn”. Mẹ của H’Nhul để lại mảnh đất này, thẻo rừng có cái giọt nước này cho nàng, vì theo chế độ mẫu hệ, con gái làm chủ mọi thứ của gia đình. Dù đất là của nàng, nhưng nguồn nước là của Yàng, trời đất tạo ra, nên nó là sở hữu chung theo lẽ trời, phải được mọi người cùng dùng, và gia đình nàng dĩ nhiên phải có trách nhiệm coi sóc nó. Cái buôn Ko Tam, gọi đầy đủ là Ko Ea Tam này mang tên từ chính giọt nước này. Ea Tam nghĩa là nguồn nước có buôn Ko Tam ở đó, mà Ko nghĩa là đầu nguồn con nước. Không chỉ người buôn Ko Tam được lấy nước ở đây, mà buôn nào cần uống cũng có thể đến lấy tự nhiên. H’Nhul cảm thấy tự hào khi chăm nom giọt nước cho bà con. H’Nhul dự cảm những giọt nước mà nàng đang chăm hàng ngày này chảy đi đâu đó thật xa, nhưng nàng chưa bao giờ đi đến cuối nguồn của nó. Giống H’Mir ở chiều ngược lại vậy ấy mà, H’Nhul sinh ra, uống nước Ea Tam lớn lên, lấy chồng, lên rẫy trồng cây bắp, cây đậu, cây cà phê kiếm sống cho mình, con cái và coi sóc giọt nước. Áp lực mưu sinh khiến những con người mộc mạc hồn hậu thường không cần đến tri thức cao rộng hay nhu cầu khám phá những không gian sống xa hơn, và có khi suốt cả một đời như thế. Dòng Ea Tam chảy từ buôn của nàng H’Nhul về đến buôn của nàng H’Mir, từ giọt nước đầu tiên đến chỗ hạ nguồn.

*
H’Mir hỏi ông bà có bao giờ Tam cạn nước chưa thì họ bảo chưa. Vậy thì, ở đương đại, chỉ có một lần duy nhất là mùa khô năm 1997, năm El Nino quét qua, nung cháy cao nguyên này, là Tam khô dòng, một số tuần. Ngoạn mục chưa, khi xứ Buôn Ma Thuột này không còn cánh rừng nguyên sinh nào cả, ngoại trừ thẻo cây bên suối sau nhà H’Mir. Sự sống kỳ lạ thế đấy, vỏ trái đất kỳ lạ thế đấy, như không ai có thể lý giải tại sao thành phố thủ phủ Tây Nguyên to đùng như Buôn Ma Thuột đến giờ nước sinh hoạt cho đô thị vẫn lấy từ nước ngầm. Lòng tốt của đất trời quả vô hạn, dù con người đã cạo trọc thảm nguyên sinh trên mặt đất, đưa người đến ở, xây lên những bon, buôn, làng mạc, bộ tộc, bộ lạc, thành phố.

Nghĩa là Tam chảy từ vùng đồi núi cao nhất xứ Buôn Ma Thuột, hướng Đông Bắc, có cái buôn Ko Tam đấy, cho đến khi gặp con suối lớn khác, Ea K’Nier, hướng Tây Nam, và nhập vào nhau để chảy thêm khúc nữa rồi tuôn trọn nước xuống dòng sông hung dữ Sêrêpôk, và dòng sông lớn nhất cao nguyên Đak Lak này sẽ đưa nước về dòng sông lớn hơn, Mê Kông, rồi hòa vào Biển Đông. Phần nhiều những con suối sườn Nam Buôn Ma Thuột đều xem Tam là Mẹ, mạch nguồn Mẹ.                      

Tam là con suối lớn nhất Buôn Ma Thuột. Tam quan trọng và cao cả như con sông Hương chảy qua Huế, sông Hồng chảy qua Hà Nội, hay sông Sài Gòn chảy qua TP. Hồ Chí Minh. Quê hương của Tam là mái nhà Đông Dương. Tam thành động mạch của cơ thể Buôn Ma Thuột, là linh hồn thủ phủ Tây Nguyên. Tam chạy vòng vèo trong lòng đất qua núi đồi, trảng cỏ, trũng sình, thung lũng, từ bon của H’Nhul đến bon của H’Mir phải đến 75 cây số. Buôn Ko Tam nó lâu đời, nó đẻ ra tên gọi con suối lớn và nổi tiếng nhất thành phố này, Ea Tam, nhưng không mấy người ở Buôn Ma Thuột và lữ khách lui tới đó. Họ chú ý nhiều hơn đến buôn A Ma Thuột (được lấy đặt tên cho toàn TP. Buôn Ma Thuột bây giờ), Ako Dhông, Mrưng, Ea K’Mak, Păm Lăm, Ko Sia, A Lê, Tuk, K’Mut, Cuôr, B’Rê, Buôr… Theo phố phường thì Tam chảy qua địa phận hành chính ngày nay với các xã là Ea Tur, phường Tân Lập, Tân Hòa, Ea Tam, Khánh Xuân, xã Hòa Phú, Hòa Xuân. Tam chảy từ cái buôn cổ xưa đó, qua những đồng lúa nước, rẫy nương, phố phường, chợ búa, hẻm phố, quốc lộ, trường học, nghĩa địa, đến chùa chiền, nhà thờ, rồi gặp lại rẫy nương, ruộng lúa. Tam chảy qua đâu là chỗ đó còn có những vườn rau non xanh bà con trồng. Sự sống và sức sống. Chảy từ cổ lục đến hiện tại. Kiên cường lắm nhưng Tam vẫn là con suối tự tình.

Ở xứ Buôn Ma Thuột đầy nắng-gió-bụi này, ai bảo hàng ngày chút mát lành trên những con phố không từ hơi nước Tam. Văn hóa truyền thống bản địa của người Ê Đê làm sao không có bóng dáng Tam. Có đứa con nào của xứ Buôn Ma Thuột khi xa xứ này mà không mang theo hình ảnh Tam. Lịch sử hình thành đô thị Buôn Ma Thuột đi qua Tam. Tam là không gian văn hóa, là sinh cảnh cội nguồn. Tam lộng lẫy lặng lẽ. Nhưng lẽ đời, thường đầu nguồn và cuối nguồn bao giờ cũng là vùng xa, nông thôn, nơi rẫy nương, hoặc ngoại vi, ngoại đô, nên người đời ít để ý cũng phải rồi.

Với lý thuyết nghĩa tình trong trời đất và khoa học về không gian sống, Tam là báu vật của một quê xứ. Đâu phải thành phố nào cũng có một dòng suối, dòng sông. Quà tặng của Yàng, Thượng đế, Ông trời.

*
Khởi thủy hẳn Tam không nghĩ một ngày nào đó của lịch sử, trên mình sẽ là một đô thị. Loài suối là phải ở rừng, với tràn đầy thảo mộc, hợp lẽ. Tam lạc loài, vì Tam bỗng dưng ở phố. Nếu lỡ ở đô thị thì phải nhờ tim người. Đô thị này sẽ rực rỡ bản sắc, nếu thế nhân có nghĩ, có thấy vai trò của Tam, lấy Tam làm trung tâm, để quy hoạch đô thị-là tránh Tam ra, cho Tam một không gian sinh cảnh, vừa đủ thôi, để Tam sống tiếp cuộc đời một con suối. Nửa thế kỷ qua, xao động quá nhiều 2 bên bờ nước. Một ngày, Tam chợt thấy mình hình như không còn là dòng nước của thiên nhiên, không còn là đứa con của đất, của thảo mộc, xứ rừng. Là khi Tam trở thành cống, thành nơi thuận tiện nhất để đựng nước thải đô thị. Một kênh nước thải khổng lồ, lê thê trên xứ sở, dài nhiều chục cây số. Nước chảy chỗ trũng mà. Dòng nước thân yêu để những người Ê Đê trên các bon Tam chảy qua đi tắm, bắt cá, hái rau dại đôi bờ và trẻ con lưu dấu tuổi thơ, giờ đã khác xưa. Cá đã biệt xứ và rau suối đã lịm hết trước dòng nước hôi thối, quanh năm đen ố đó. Nhà bên suối là nhà xa xỉ, giữa đô thị, ngày nay. Người ta tranh nhau xây nhà, biệt thự, mở quán nhậu, trại chăn nuôi, lò mổ, xưởng máy… trên mình Tam. Mới hôm nào Tam chỉ tiếp nhận nguồn nước trong lành từ những khe mạch mình đi qua, nay là vòi thải của vạn ngàn nhà cửa. Hàng ngày, Tam phải tải đi luôn xác vật chết, phế phẩm bếp núc, hàng quán, phế liệu nhà xưởng, cùng bao la túi ni lông… về hạ nguồn, nơi H’Mir ở. Trên những mảnh ruộng lớn bé đó, bà con bảo lúa cũng vật vã sống, có mùa được có mùa không, lúa chết, và cá không còn là một nguồn thu hay sự cải thiện bữa ăn của cộng đồng.

 

Từ khi cao nguyên Đak Lak hình thành, Tam đã chảy thế. Cứ chỗ nào trũng thì Tam đi, xé núi tạo khe, băng qua những cánh rừng, muông thú, thời gian, rồi cả những làng người. Những chuyện bên trên mặt đất Tam không biết, Tam chỉ biết rễ cây rỉ ra nước, cộng với nguồn từ hơi nước ngưng tụ thành mây và khi đổ xuống ngấm lại mặt đất thì Tam đưa nó đi giang hồ.

Cả thành phố này biết Tam đã không còn là một con suối. Vẫn gọi Tam là “suối” vì ký ức đã định vị, hằn trong tâm tưởng cư dân và khái niệm để thay thì chưa có. May mà ở đầu nguồn, nơi H’Nhul ở, chưa bị đô thị hóa, cả xã Ea Tur và quanh đó, vẫn còn là vùng rẫy nương hiền lành hoang vắng cùng lỏi chỏi những khe đồi còn dăm ba chỏm rừng lá rộng đang chống chọi cuộc cuối với cây cà phê. Sứ phận dẫn nước cho đất đai, con người, cây cối của Tam đã thay bằng công năng dẫn nước thải đô thị, thế Tam có buồn không? Nếu có tâm hồn thì Tam phải biết buồn và trên cả buồn là Tam đau khổ. Chắc Tam nhớ những thế kỷ, thập niên an nhiên, lăn tăn, vẫy vùng chỉ là nước tinh tươm trên mặt đất. Chắc Tam nhớ những đàn cá trong lòng nước. Tam nhớ những bầy chim kéo nhau về làm tổ trên những dải cây ven suối. Tam nhớ những bến nước luôn đầy tiếng cười của bà con xuống gùi nước ban trưa. Tam nhớ những sơn nữ hồn nhiên thả ngực trần long lanh tắm dưới dòng nước khi chiều tà. Thời gian nhuộm lên Tam vùng ký ức mênh mang. Con suối đã úa mà ký ức vẫn một màu rực rỡ.

*
Ta bụm những vốc nước ở giọt nước của Ko Tam đưa lên, rưới vào mặt. Nước đầu nguồn mát tươi, làm tê dại mắt môi. Ta cũng tranh thủ uống thật nhiều, cho giọt nước mát đó thấm vào bên trong. Ngọt lịm, kiểu ngọt không thể tả được đâu. Giờ thì mới biết vì sao người buôn Ko Tam lấy nó về để dành uống sống, còn bếp núc, giặt giũ là dùng nước giếng. Ai cho nước đóng chai La Vie, Vital, Aquafina, Vĩnh Hảo thì cảm ơn, mang nấu cơm, chủ yếu lấy vỏ chai để đi lấy nước ở giọt thôi. Cái thứ nước thấu trong lòng đất, rễ cây, kéo cái sợi dây thói quen nghĩa tình sâu bao đời lại. Họ phải uống “quê hương” mình thì mới đã. Bỗng thương H’Mir quá. Hôm nay không biết nàng có phải đi nhặt xác vật chết dồn vào bờ suối sau nhà để chôn và mùi của Tam có bớt hôi tanh như mọi ngày?

Nguyễn Hàng Tình

.